Showing posts with label sưu tầm. Show all posts
Showing posts with label sưu tầm. Show all posts

Saturday, September 7, 2013


ÐỪNG HAM THẦN THÔNG, PHÉP LẠ DỊ ÐOAN (HT. Tuyên Hóa khai thị)

***********************
Trên thế giới này có nhiều chuyện kỳ quái, nhiều đến độ không thể nói hết được. Vì sao mà có đủ sự việc kỳ quái như vậy? Bởi vì tâm lý con người "hiếu kỳ," thích sự kỳ quái.

Con người có lòng hiếu kỳ nên thế giới mới có những việc kỳ quái xuất hiện. Những thứ đó một khi xuất hiện thì mê hoặc tâm người, khiến mình không còn làm chủ chính mình nữa. Một khi đã không có chủ, gia đình và quốc gia cũng sẽ rối loạn. Ðã loạn, thì những quỷ quái đó mặc tình hiện thần thông, làm cho con người điên điên đảo đảo, chạy bên đông chạy bên tây, đi tìm chuyện kỳ diệu, thần thông, linh nghiệm. Ðó đều là bị cảnh giới làm xoay chuyển rồi vậy.

Tại sao mình bị cảnh giới xoay chuyển? Là bởi vì có tâm hiếu kỳ. Tâm hiếu kỳ này vốn là tâm tham. Những chuyện kỳ quái phát sinh trên trần gian này, nếu mình nghiên cứu sâu xa tận gốc rễ của nó, thì cũng do lòng tham này tạo ra. Nếu không có lòng tham thì không cần thiết phải hiện ra những thứ kỳ quái, làm ra vẻ đặc biệt kỳ quái để cho người ta nhìn mình là linh nghiệm như vậy, tốt đẹp như vậy, khác thường như vậy. Bởi vì con người có tâm tham nên bị những thứ kỳ quái đó hấp dẫn, lôi cuốn.

Những điều kỳ quái khác thường đó đều là những việc không chánh đáng, đều thuộc về ma nghiệp. Những việc chánh đáng là nghiệp của Phật. Cho nên hiện tại có rất nhiều người mất đi chánh tri chánh kiến, cái biết cái nhìn đúng đắn. Bạn giảng Pháp chân chánh thì họ nghe không lọt tai, giảng cách nào họ cũng không chấp nhận, thậm chí lời vào tai bên trái thì chạy ra tai bên phải. Song nếu bạn nói những điều kỳ quái, đặc biệt thì họ vĩnh viễn nhớ không bao giờ quên, đó chứng minh là con người bị lòng tham tác quái!

Vì sao mà họ không nhớ được điều chân chánh? Bởi vì họ cảm thấy không có gì lợi cho họ cả. Kỳ thật điều chân chánh mới thật là lợi ích. Những người trên thế gian này đa số nhận cái giả mà không chịu nhận cái chân thật, nhận kẻ cướp làm con của mình. Vì vậy khi mình nói điều ngay thẳng, chân thật thì họ chẳng muốn nghe, nhưng khi nói những điều nịnh hót thì họ hết sức vui vẻ. Thật là: "Trung ngôn nghịch nhĩ, lợi ư hành, Lương dược khổ khẩu, lợi ư bịnh." (Lời trung thật tuy khó nghe nhưng lợi cho việc làm, Thuốc tốt tuy đắng nhưng trị lành được bịnh.)

Ða số người đời đều không muốn tiếp thọ lời trung ngôn, tức là lời nói ngay thẳng, cũng như không muốn uống thứ thuốc tốt, nhưng rất là đắng. Nếu mà đưa cho họ thuốc đắng thì họ nhăn mặt làm ra vẻ khó chịu, nói rằng: "Ô! Thuốc này khó uống quá". Nhưng thuốc khó uống như vậy thì bịnh mới lành được!

Thời đại bây giờ người ta là vậy đó, giảng chuyện của Phật, của Bồ Tát thì không ai muốn nghe cả; nhưng nếu kể chuyện yêu ma quỷ quái thì họ lại thích nghe. Thí dụ như nghe kể chuyện trai gái không giữ quy củ, sống hết sức phóng túng, thì người ta lại thích thú bởi vì chính họ cũng không muốn giữ quy củ. Ðó là những ý tưởng hết sức hèn hạ, hết sức tệ hại.

Cho nên, có những người tới Vạn Phật Thành rồi mà không ở lâu được là vì sao? Là vì họ không có tinh thần hy sinh, không có tư tưởng chân chính vì Pháp quên mình. Người chân chính vì Pháp quên mình thì dù đuổi họ, họ cũng không đi; đánh chưởi họ, họ cũng chẳng chạy. Họ cảm thấy rằng đây qủa thật là chỗ Chánh Pháp trụ thế, họ muốn tiếp cận với Chánh Pháp!

Chúng ta ở đây đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, đối với thời đại này thì hết sức hữu dụng. Chúng ta muốn hoằng dương Phật Pháp thì phải có tinh thần đại hy sinh, đừng tham lợi ích tiện nghi gì cả. Hễ có kẻ cúng dường phẩm vật mà mắt mình sáng rực, miệng mình cười toe toét, thì mình thật là chẳng ra gì!

THIỀN VÀ GIÁO

LỜI PHẬT DẠY TRONG KINH TẠNG NIKAYA

THIỀN VÀ GIÁO

Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú ở Cetì, tại Sahajàti. Tại đây, Tôn giả gọi các Tỷ kheo:

Này chư Hiền, một số Tỷ kheo chuyên tâm về Pháp không ưa thích các Tỷ kheo tu Thiền, nới như sau: “Những người này thiền cái gì? Thiền có lợi ích gì? Thiền như thế nào?”. Các Tỷ kheo chuyên tâm về Pháp không hoan hỷ và các Tỷ kheo tu Thiền cũng không hoan hỷ; hành động như vậy không đưa đến hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; không đưa đến lợi ích, an lạc cho chư Thiên và loài người.

Ở đây, này các chư Hiền, một số Tỷ kheo tu Thiền không ưa thích các Tỷ kheo chuyên về tâm Pháp, nói như sau: “Họ tháo động, thất niệm, lắm lời….Những người này chuyên tâm về cái gì? Pháp có lợi ích gì? Chuyên tâm về pháp như thế nào?”. Các Tỷ kheo tu Thiền không hoan hỷ và các Tỷ kheo chuyên tâm về Pháp cũng không hoan hỷ; hành động như vậy không đưa đến hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; không đưa đến lợi ích, an lạc cho chư Thiên và loài người.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, phẩm Dhamika, phần Mahàcuda [trích], VNCPHVN ấn hành 1996, tr.124)

LỜI BÀN:

Trong vô lượng pháp môn tu mà Thế Tôn đã tuyên thuyết, tuy phong phú và đa dạng nhưng đều có một điểm chung, thuần nhất, đó chính là an lạc và giải thoát. Phương tiện thì tùy theo can cơ có vô vàn sai biệt nhưng cứu cánh Niết bàn chỉ có một, duy nhất.

Tu Thiền hay chuyên tâm về Pháp, Tông môn hoặc Giáo môn thảy đều là phương tiện và dĩ nhiên mỗi phương tiện đề có một đặc trưng riêng. Vì lẽ các pháp môn tu đều lưu xuất từ tuệ giác của Thế Tôn cho nên chắc chắn sẽ đưa hành giả đến giải thoát Niết bàn, như trăm sông đều xuôi về biển cả.

Tuỳ theo căn cơ, hoàn cảnh, nhân duyên…mà mỗi người con Phật tự chọn cho mình một pháp môn tu thích hợp. Tuy các pháp môn phương tiện có nhanh chậm, khó dễ khác nhau nhưng pháp môn nào cũng thù thắng, đều đưa đến giải thoát và an lạc. Do đó, người tu ngoài nắm vững pháp môn của mình cần tìm hiểu để biết thêm về các pháp môn khác nhằm trợ duyên hay ít ra cũng tránh được việc chỉ trích, phê phán đồng đạo, những pháp lữ có nhân duyên với những pháp môn tu tập khác nhau.

Vì vậy, không thể quy kết, tự cho pháp môn của mình là tối thắng. Sự tối thắng, theo quan điểm của Thế Tôn, chính là sự thực hành trọn vẹn theo pháp môn đã chọn. Ngày nay, thảng hoặc vẫn còn sự “xung đột” về quan điểm tu tập giữa các tông phái (có thể vô tình hay cố ý xiểng dương tông phái của mình) là điều không nên có. Vì như lời Tôn giả Mahàcunda đã học được từ Thế Tôn: “Hành động như vậy không đưa đến hạnh phúc an lạc cho nhiều người; không đưa đến lợi ích, an lạc cho chư Thiên và loài người”.

“Thiệt thòi là phước”

“Thiệt thòi là phước”

**********************

Người thế gian, người không học Phật thì chúng ta không nói, người học Phật rất nhiều, họ cũng thường hay đọc kinh, cũng thường hay nghe giảng, số lần nghe cũng đã nhiều rồi, tại sao vẫn không chịu học vậy? Tại sao vẫn không sửa chữa được vậy? Thí dụ như chúng ta đối với người không chân thành, chúng ta không dùng chân tâm đối với người, chúng ta không dùng thành ý đối với người, tại sao vậy? Chúng ta suy nghĩ quan sát tỉ mỉ, điều đó không ngoài việc sợ bị thiệt thòi. Người ta đối với mình đều là không thật lòng, mà ta đối với người chân thành, thế chẳng phải là ta đã bị thiệt thòi rồi sao? Cái quan niệm sai lầm này đã hại chúng ta đời đời kiếp kiếp học Phật đều không thể thành tựu, không những không thể chứng quả, mà ngay cả khai ngộ cũng không làm được. Cho nên cổ nhân thường dạy chúng ta: “Thiệt thòi là phước”. Thiệt thòi không phải họa, thiệt thòi là phước, lời nói này rất ý vị. Người chịu thiệt thòi, sẵn sàng lấy chân tâm thành ý để đối nhân tiếp vật, phước của họ ở đâu vậy? Cái này trong kinh nói là vô lượng bảo tạng tự nhiên phát ứng. Bạn nhìn thấy đoạn kinh văn này, nghe thấy cách nói này thì lắc đầu, e rằng tin không nổi, tâm nghi ngờ của bạn chưa đoạn dứt, chỉ sợ thiệt thòi, vì thế những mong cầu của bạn không thể thành hiện thực.

PS Tịnh Không

Friday, September 6, 2013

MANG NGHIỆP VÃNG SINH CÓ PHẢI LÀ TRỐN NỢ KHÔNG?

MANG NGHIỆP VÃNG SINH CÓ PHẢI LÀ TRỐN NỢ KHÔNG?


Mang nghiệp vãng sinh là quan điểm của người tu pháp môn Tịnh độ, nhưng không thấy có danh từ này trong các kinh điển về Tịnh độ. Vì vậy, cách đây vài năm, có một cuộc bút chiến về chủ đề "Tiêu nghiệp vãng sinh và mang nghiệp vãng sinh", của tu sĩ Du già Mật giáo và người tu Tịnh độ. Nhưng, theo kinh "Quán vô lượng thọ" và kinh "Vô lượng thọ" thì người phàm phu, tuy tạo nghiệp ác lớn, nếu niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hướng về Phật A-di-đà phát lời nguyện lớn thì cũng được vãng sinh. Vì vậy mà giới Tịnh độ ở Trung Quốc đề xướng thuyết "Mang nghiệp vãng sinh".

Bình thường mà nói, thì các vị Bồ Tát, do sức mạnh lời nguyện của mình mà xuất hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh, còn phàm phu thì do nghiệp lực mà phải xuất hiện ở thế gian để chịu quả báo. Trong khi chịu quả báo lại liên tục tạo nghiệp, dù là tạo nghiệp thiện hay ác đều không thể ra khỏi ba cõi. Tạo nghiệp ác lớn thì bị đọa vào đường ác. Tạo nghiệp thiện lớn thì sẽ sinh lên cõi trời hưởng phúc ở đấy. Nếu vừa tạo nghiệp thiện vừa tạo nghiệp ác thì vừa có thể sinh làm người hay làm quỷ thần, vừa được phúc báo, vừa chịu khổ báo. Chỉ có những người tu hạnh giải thoát thanh tịnh ngoài việc giữ 5 giới, tu mười điều thiện ra, còn tu định, tu huệ, đoạn trừ hết phiền não mới có thể ra khỏi sinh tử, mãi mãi vượt qua ba cõi.

Phép tu Tịnh độ là một phương tiện thuận tiện có thể dựa vào sức mạnh thệ nguyện của Phật A-di-đà mà giải thoát khỏi 3 cõi. Những người có niềm tin sâu sắc mà phát nguyện vãng sinh về cõi Tịnh độ thì dù có phạm trọng tội, làm vô số các nghiệp ác cũng có thể vãng sinh về cõi Cực lạc, sau đó nhờ nghe pháp lâu dài, nhờ có hoàn cảnh thuận tiện chẳng những không còn tạo nghiệp ác nữa, mà qua một thời gian dài làm cho các hạt giống ác nghiệp dần dần bị khô héo, cằn cõi đi. Đó là lý luận "Đeo nghiệp ác".

Tất nhiên ở cõi Tịnh độ Tây phương, tu chứng được quả Thánh rồi sẽ trở lại cõi Sa-bà này, hiện nay nhiều nhân tướng khác nhau, để độ chúng sinh. Bậc Thánh ấy có thể thác vào thai mà sinh, cũng có thể biến hóa mà sinh. Nếu là khai sinh, thì mang thân thế và chịu hoàn cảnh như các chúng sinh khác, cũng chịu mọi sự đau khổ bức bách. Đối với chúng sinh mà nói đó là thuộc về nghiệp báo. Nhưng các bậc Thánh đó tuy vẫn chịu thọ báo, nhưng không lấy đó làm khổ. Cho nên tuy mang nghiệp vãng sinh, nhưng không phải là trốn nghiệp, tuy chịu quả báo nhưng rất khác với chúng sinh phàm phu. Như vậy có thể thấy, nếu không vãng sinh Tịnh độ thì sẽ bị lưu chuyển mãi trong bể khổ sinh tử luân hồi, tạo nghiệp báo rồi chịu báo, tạo nghiệp báo rồi chịu báo, tạo nghiệp tuần hoàn mãi mãi. Còn được vãng sinh Tịnh độ thì mang nghiệp mà đi tiêu nghiệp trở về, rồi lại trở lại thế gian mà chịu báo. Nhưng chịu ở đây chỉ là hiện tượng không phải là thực chất. Cho nên, dù có tin thuyết "Đeo nghiệp vãng sinh, thọ báo để tiêu nghiệp" cũng không hại gì. Nhưng không thể so sánh việc phàm phu tạo nghiệp thọ báo, với việc chủ động, phát nguyện tái sinh, chịu báo để độ chúng sinh. Một bên là chủ động, một bên là bị động.

Có một loại lý luận Mật giáo, cho rằng nhờ thực hành phép tu bí mật, hay nhờ sự gia hộ của bậc đại tu hành nên có thể lập tức tiêu mọi nghiệp chướng, đạt tới chỗ thân tâm thanh tịnh, vãng sinh sang nước Phật. Thuyết này tương tự như phép chuộc tội, miễn tội, thế tội của tôn giáo thần quyền, không phù hợp với thuyết nhân quả nhà Phật.

THẬP TRỤ BỒ TÁT

THẬP TRỤ BỒ TÁT

Đại thừa Bồ-tát tu sáu pháp ba-la-mật gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, đó là Bồ-tát của Bát-nhã. Nhưng Bồ-tát của Hoa nghiêm tu thập ba-la-mật gồm có sáu pháp ba-la-mật vừa nói cộng thêm bốn pháp ba-la-mật là phương tiện, nguyện, lực và trí. Bồ-tát phải có phương tiện, vì không có phương tiện không thể làm được. Và có phương tiện rồi, phải có nguyện nghĩa là có muốn làm hay không; vì có phương tiện làm được, nhưng nếu không muốn làm mà chỉ muốn an thân mặc dù Phật pháp cần thì cũng hỏng. Bước qua lực ba-la-mật, hành giả muốn làm nhưng làm được hay không. Muốn và làm được thì phải có lực ba-la-mật. Muốn mà làm không được gọi là lực bất tòng tâm. Hành giả tu lực để việc nào cũng làm được. Và ba-la-mật thứ mười là trí ba-la-mật. Bát-nhã Ba-la-mật chỉ là hiểu biết lý thuyết trên sách vở, hay biết do công phu tu thiền định. Cái thấy biết ở trường lớp tất nhiên khác với hiểu biết do kinh nghiệm làm đạo gặt hái được. Vì vậy, trí ba-la-mật trong kinh Hoa nghiêm gọi là Nhứt thiết chủng trí do trải qua quá trình hành đạo giáo hóa chúng sanh.

Tôi thấy mười môn ba-la-mật của kinh Hoa nghiêm giống với kinh Nguyên thủy, cho nên có thể khẳng định rằng kinh Nguyên thủy và kinh Đại thừa là một; nhưng vì sự hành đạo và tu chứng có khác nhau nên diễn tả khác. Thực chất cái gốc của Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thủy là một, không phải là hai luồng tư tưởng khác nhau; nhưng tùy theo trình độ, tùy theo sự hiểu biết, tùy theo sự tu chứng mà giải thích khác nhau, cho nên đừng phạm sai lầm nói Phật giáo Nguyên thủy đúng, Phật giáo Đại thừa sai, hoặc nói Phật giáo Đại thừa đúng, Phật giáo Nguyên thủy sai.

Thập trụ là trụ tâm ở Bồ-tát đạo và tu mười ba-la-mật gọi là Bồ-tát trụ tâm từ nhân hướng quả, tập làm theo Bồ-tát lớn. Chúng ta phát tâm tu thấy kinh ghi làm như vậy thì chúng ta làm theo, nhưng có người làm được, có người làm không được. Người làm được nhờ có điều kiện. Người không làm được vì chỉ có ý chí muốn làm, nhưng thiếu điều kiện nên gặp trở ngại.

"Trụ” là vững tâm rồi thì phân tích thấy người làm đúng, tại sao lại không được gì. Quán sát kỹ như vậy mới tu, mới chọn thầy để dẫn đường, chọn bạn để hợp tác. Khi có thầy là Bồ-tát thập địa, bạn là người trải nghiệm thập hồi hướng, như vậy thì an toàn cho hành giả. Còn mới phát tâm mà nhận lầm ác ma là Phật, chắc chắn chết.

Khi trụ tâm lại, tôi nhắc anh em là càng khó càng phải bình tĩnh để tháo gỡ, may ra có thể vượt được thì chúng ta sống. Nhưng bình tĩnh cũng có thể chết, trong trường hợp nguy cấp này cũng phải biết ta về đâu là có định hướng để ra đi. Nếu còn mạnh khỏe mà biết rõ hướng đi của mình sau khi bỏ thân này, dĩ nhiên là tốt hơn. Còn chết trong hốt hoảng sẽ bị đọa.

Trụ tâm quán sát cuộc đời, thấy người làm được việc nhờ có quyến thuộc tốt, làm không được vì quyến thuộc xấu. Vì vậy, nhìn người hợp tác tốt hay xấu, có năng lực hay không sẽ biết được việc làm của mình phát triển hay đi xuống. Việc làm đạo của chúng ta sẽ được nhiều thuận lợi và dễ dàng thành công, khi được người có quyền thế hỗ trợ và nhà doanh nghiệp thành đạt hằng tâm hằng sản cúng dường. Ta hợp tác với người làm đạo có thắng duyên như vậy thì tương đối tin cậy được. Còn người tốt muốn làm, nhưng không có điều kiện, phải đi vay mượn cũng dễ thất bại.

Đạt đến vị trí thập trụ mới phát tâm hành Bồ-tát đạo. Có hiểu biết, có sức khỏe và có tiền của là ba điều kiện cần thiết để hành Bồ-tát đạo. Đương nhiên người có trí tuệ phải theo thầy hiểu biết hơn mình. Dù là ác ma thì nó cũng phải theo ác ma dữ hơn nó. Người ta theo Bồ-tát vì phục Bồ-tát hơn họ cái đầu. Vì vậy, Hiền thì phải phò Thánh, không phò ma quỷ. Khi thọ giới, giáo thọ sư nhắc rằng không phải Hiền thì không làm bạn, không phải Thánh thì không thờ. Hiền của nhị thừa, hay của Bồ-tát, ta theo làm bạn; không phải như vậy, chúng ta tránh. Còn theo ma quỷ, họ bày việc xấu, mình bị đọa. Trên bước đường tu, phải làm bạn với hàng Bồ-tát tam Hiền, nếu không, họ thoái chuyển thì ta cũng bỏ cuộc theo. Có thầy xin tôi cầu pháp, vì thầy tế độ đã hoàn tục là mất chỗ dựa, nên phải cầu y chỉ sư để nương theo tu.

Kinh Nguyên thủy nói mười pháp ba-la-mật và kinh Đại thừa cũng nói mười pháp ba-la-mật, nhưng phân tích khác hơn mười ba-la-mật của kinh Nguyên thủy. Kinh Nguyên thủy nói rằng mười pháp ba-la-mật là quá trình tu Bồ-tát đạo của Đức Phật Thích Ca. Điều này cho chúng ta biết rằng Tỳ-kheo tu Thanh văn đạo, nên chỉ đạt đến quả A-la-hán là cao nhất, trong khi Đức Phật tu Bồ-tát đạo. Hiểu như vậy, xuất gia tu hành theo Thanh văn tạng, chúng ta phải trải qua quá trình tu chứng từ Tu-đà-hoàn đến Tư-đà- hàm và A-na-hàm là tam Hiền vị và A-la-hán là Thánh vị. Nhưng kinh Đại thừa triển khai Hiền vị gồm có 30 bậc là Bồ-tát thập trụ, thập hạnh và thập hồi hướng. Bồ-tát thập địa có mười bậc là Thánh vị. Còn theo kinh Nguyên thủy thì có ba bậc Hiền và chỉ có một bậc Thánh. Nếu phân tích sẽ có sự khác biệt như vậy giữa kinh Nguyên thủy và kinh Đại thừa.

Riêng tôi tu Pháp hoa kết hợp cả hai, vì theo Pháp hoa có cái nhìn thống nhất, không riêng biệt, gọi là viên giáo tức trăm sông đều đổ về biển cả. Nghĩa là tất cả các pháp tu đều dẫn hành giả đến quả vị Phật, nhưng vì hoàn cảnh khác, nghiệp khác, hiểu biết khác, tu chứng khác nên có pháp tu khác nhau, nhưng cuối cùng đều thành Phật. Tu hành theo Phật, chúng ta phải thấy mẫu số chung này. Giáo hội chúng ta cũng thấy như vậy, nên có khẩu hiệu là đoàn kết, hòa hợp. Trước kia, tôi nhận trách nhiệm hoằng pháp, đó là một mảng hoạt động của Giáo hội và hiện nay, tôi phụ trách Phật giáo quốc tế. Giáo hội có nhiều lãnh vực hoạt động như hoằng pháp, văn hóa, từ thiện, cư sĩ, hay Phật giáo quốc tế, v.v… tất cả các lãnh vực này phải mạnh đều; nếu chỉ có một mặt mạnh sẽ trở thành khuyết tật. Ta làm việc này, người làm việc khác, cần phải bảo vệ, giúp đỡ nhau, không phải phân hóa, đả phá nhau làm cho Phật giáo suy đồi. Cũng như chúng ta ở chung một chùa, thấy người yếu thì phải giúp đỡ, không công kích, chống đối nhau. Anh em phải nhớ như vậy để khởi tu.

Tam Hiền vị của Thanh văn là quá trình tu từ phàm phu lên Thánh, tất yếu phải đi con đường này. Anh em nghĩ mình tu hành phát xuất từ chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não thì phải giải quyết chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não. Muốn vậy, chúng ta phải phá cái nghiệp của mình và chấm dứt nghiệp để trở thành thanh tịnh Tăng. Trong lúc thực hiện pháp này, có việc chúng ta làm được, có việc không làm được, nhưng cái gì cắt bỏ được thì phải cắt ngay. Người xuất gia cắt bỏ công danh sự nghiệp để dấn thân tu hành, còn đối với thân này thì cắt nghiệp là đoạn dục khử ái. Người thực tu phải đi con đường này như Đức Phật đã làm. Còn cư sĩ thì phải thỏa hiệp với nghiệp để tu, vì còn có gia đình, có công việc; cho nên giờ nào, ngày nào tu được thì tu, giờ khác phải lo cho gia đình và xã hội, không được thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Đó là ý nghĩa thỏa hiệp với nghiệp, phải làm bổn phận nghĩa vụ của người dân, của thành viên trong gia đình mới có quyền lợi hợp lý. Nhưng đối với chúng xuất gia đã từ chối quyền lợi, nên không còn nghĩa vụ nữa. Nếu anh em tu mà từ chối nghĩa vụ xã hội nhưng lại muốn hưởng quyền lợi xã hội là sai lầm, phải từ chối quyền lợi thì luật pháp mới chấp nhận mình. Thí dụ Nhà nước cấp đất cho chúng ta xây chùa là đất tôn giáo dành cho người tu, nên chúng ta không phải đóng thuế đất, tức chúng ta không có quyền lợi thì cũng không có nghĩa vụ. Còn nếu thầy mở cửa hàng kinh doanh là có thu nhập thì không được từ chối nghĩa vụ.

Ngài Quy Sơn dạy rằng "Bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự. Miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư…”. Nghĩa là người xuất gia không lo việc nước cũng chẳng thừa kế nghiệp nhà, từ bỏ xóm làng, thân tộc, xuống tóc theo thầy học đạo… thì việc của chúng ta là "Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức…”, nhưng "nội cần” không có là tu hành không tiến bộ, mà chỉ lo tranh giành quyền lợi, không được thì phiền não nổi dậy; như vậy không phải là người tu.

Chúng ta tu không đạt kết quả tốt đẹp vì phạm sai lầm, nhưng lại nói chúng ta tu Đại thừa. Tu Đại thừa theo Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bát-nhã, Phật dạy gì? Kinh Bát-nhã dạy quán Không, bỏ tất cả, chủ yếu là bỏ phiền não, nhưng ta lại ôm phiền não là sai, không phải Đại thừa, tức ta còn buồn giận lo sợ, phải trái hơn thua không ở giải thoát môn. Khi buồn giận liền nghĩ mình đã sai, phải bỏ để tâm vắng lặng là nhập Bát-nhã môn.

Đi theo lộ trình của hàng nhị thừa, chúng ta phát tâm tu phải đạt cho được Hiền vị thì không còn bốn tướng buồn giận lo sợ. Có thầy nói rằng tôi chết đến nơi mà không sợ. Tôi trả lời tu thì còn sợ gì, lo gì. Tôi muốn nhắc anh em chuyện sống chết đối với chúng ta là bình thường. Còn sợ là còn phiền não, không nhập Bát-nhã môn được, hay thân xuất gia mà tâm thế tục thì nguy hiểm.
HT. Thích Trí Quảng
[C4L]

Wednesday, September 4, 2013

NGƯỜI TỬ TỘI CẦU XUẤT GIA

MỘT TRĂM TRUYỆN TÍCH NHÂN DUYÊN (TRĂM BÀI KINH PHẬT)

NGƯỜI TỬ TỘI CẦU XUẤT GIA


Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người ngu si tên là Như Nguyện, quen làm những chuyện sát hại, trộm cắp, tà dâm. Nhiều người bắt được thưa kiện lên vua, liền sai quân trói lại dẫn ra chợ, chiếu theo luật mà ghép tội chết.

Trên đường dẫn đi, người ấy trông thấy Phật từ xa liền quỳ mọp xuống lễ bái, tự xưng tội trạng, bạch Phật rằng: “Con nay mắc phải tội chết, mạng sống chẳng còn bao lâu nữa. Nguyện đức Thế Tôn đại từ đại bi xin tội cho con. Con nguyện xuất gia theo Phật, trọn đời không tái phạm.”

Khi ấy Phật liền nhận lời cầu xin ấy. Ngài bảo với A-nan rằng: “Này A-nan! Ngươi hãy đến chỗ vua Ba-tư-nặc và tâu rằng, ta xin tha mạng người tử tội này để thâu nhận người xuất gia nhập đạo.” Ngài A-nan vâng lời Phật đi đến chỗ vua Ba-tư-nặc. Đến nơi, ngài đem lời Phật mà tâu với vua. Vua nghe lời Phật liền lập tức tha tội, truyền quân dẫn đến chỗ Phật.

Phật độ cho Như Nguyện xuất gia. Nhờ tinh cần tu tập nên chẳng bao lâu được đắc quả A-La-hán.

Chư tỳ-kheo thấy việc Như Nguyện sắp chết mà được cứu, lại xuất gia chưa bao lâu được thành đạo quả, đều khen là việc chưa từng có, liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Do nhân duyên phước báo gì mà ngày nay Thế Tôn nói ra liền được người tin phục nghe theo, cứu mạng tội nhân dễ dàng như vậy.”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi nên chú ý lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói.

“Này chư tỳ-kheo! Về thuở quá khứ, cách nay vô số kiếp, nước Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Đế Tràng, cùng với chư tỳ-kheo đi khắp nơi giáo hóa chúng sanh. Ngày kia nơi giữa đường đi gặp một vị tiên nhân. Vị ấy thấy Phật đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng rực rỡ, liền sinh lòng hoan hỷ vui mừng, lễ bái dưới chân, thỉnh Phật cúng dường. Phật nhận lời.

“Khi ấy, tiên nhân soạn sửa đủ các món ăn thức uống quý lạ, tinh sạch mà cúng dường Phật với chư tăng. Lễ cúng dường xong, liền phát lời nguyện rằng: ‘Nhờ công đức cúng dường hôm nay, nguyện cho trong đời vị lai, lời tôi nói ra đều được người tin phục nghe theo.’ Đức Phật Đế Tràng liền nhận cho rằng: ‘Chỗ mong muốn của ngươi hôm nay tất được như nguyện, cũng giống như ta ngày nay không sai khác.’ Khi ấy, tiên nhân nghe lời Phật rồi liền phát tâm vô thượng Bồ-đề, cầu thành quả Phật. Phật Đế Tràng thọ ký cho rằng: ‘Ngươi về sau sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.’”

Phật bảo chư tỳ-kheo rằng: “Vị tiên nhân thuở ấy chính là ta ngày nay. Vì ta đã từng kính thuận chư Phật, nên ngày nay mỗi lời nói ra liền được người tin theo, cứu mạng được cho tội nhân, lại độ cho thành đạo quả.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Sunday, September 1, 2013

Rộng mở tâm hồn đón nhận tất cả



Tại sao chúng ta luôn chấp trì vào ý nghĩ rằng cuộc sống phải luôn thanh bình, êm ả? Rất nhiều người cho rằng chúng ta chỉ có thể thực hành Phật pháp khi không có bất cứ chướng ngại nào bên ngoài cũng như bên trong, rằng tu tập chân chính chỉ có thể thực hiện trong những kỳ chuyên tu nhập thất hay chí ít cũng phải đến chùa, tự viện hay các trung tâm Phật pháp. Trong đời sống thường nhật, bị áp lực thời gian, bất mãn với hàng loạt gánh nặng gia đình và công việc, mỗi ngày, chúng ta đều cảm thấy bế tắc, thậm chí tuyệt vọng. Vì tin rằng tu tập nghĩa là phải có thời gian để chuyên nhất quán tưởng, lễ lạy, thực hiện các nghi lễ cúng dàng hay tâm linh khác, v.v…, chúng ta càng tin tưởng mình còn thiếu thiện duyên.



Ta vẫn tự nhủ "Làm sao mình có thể trở thành một hành giả chân chính nếu không có thời gian để thực hành?" Tuy nhiên, đây là một cách hiểu về việc thực hành Phật pháp hoàn toàn thiếu thực tế, sai lầm.

Chúng ta hãy kiểm nghiệm lại pháp tu Lục độ Ba La Mật, mang ý nghĩa sáu phương pháp hoàn hảo gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ - tất cả đều cần thiết để thành tựu Phật quả. Bất kỳ sự thực hành nào trong số sáu phương pháp này đều đòi hỏi chúng ta phải liên hệ và tương tác với mọi người. Nói cách khác, để có thể thực hành Lục độ Ba la mật một cách sâu sắc, chúng ta cần những mâu thuẫn và xung đột trong chính cuộc sống đời thường. Nếu chỉ ngồi yên nơi tịnh thất và cho rằng mình đang tràn đầy tình yêu thương cùng các phẩm chất tích cực như vị tha, bao dung, nhẫn nhục thì đó là điều quá dễ dàng bởi ta chẳng gặp phải bất kỳ thách thức nào. Nhưng khi xả thất, ta gặp gỡ rất nhiều người trong đời sống thực tế, những người không đối tốt với ta, không làm theo những điều ta mong muốn, ta sẽ nhìn thấy mình rõ hơn và bắt đầu hiểu thế nào là thực hành Phật pháp chân chính.

Chúng ta có thể áp dụng hai cách tiếp cận cơ bản trong quá trình tu tập của mình. Thứ nhất, ta cần học cách sống tỉnh thức mỗi ngày - đây là điều cốt yếu. Thứ hai là học cách rộng mở tâm hồn thông qua thực hành Lục độ ba la mật đặc biệt là hạnh bố thí và nhẫn nhục. Nếu tâm hồn chúng ta khép chặt, dù trì tụng bao nhiêu chân ngôn, thực hiện bao nhiêu lễ lạy, thụ nhận bao nhiêu quán đỉnh, tầm đọc bao nhiêu kinh sách cũng đều vô nghĩa. Nếu sự hành trì không giúp ta thay đổi một cách đúng đắn, tích cực thì điều đó hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì.

Vì hay đồng hóa bản thân với đủ mọi cảm xúc, tư tưởng, thiên kiến và định kiến nên chúng ta không còn chỗ cho chính mình để có thể nhìn mọi thứ một cách chân xác trong mọi hoàn cảnh. Đắm chìm trong "vũng lầy" vô minh ấy, ta thường có những lựa chọn sai lầm trong hầu hết mọi tình huống. Giống như bị quăng quật, quay cuồng giữa cơn bão biển, cuộc sống cũng tương tự vậy, chúng ta phải học cách giữ định tâm giữa những bão tố của đời thường. Cách tốt nhất là tỉnh thức và rộng mở tâm hồn đón nhận khoảnh khắc hiện tại. Như vậy được gọi là chính niệm. Bậc Đại thành tựu giả Milarepa từng nói rằng càng trải qua bão tố thăng trầm của hạnh phúc và khổ đau, càng có cơ hội tu tập và thành tựu giác ngộ trong cuộc đời.

Chúng ta hãy tìm hiểu về ý nghĩa thực sự của tỉnh thức. Thông thường, khi chúng ta nghĩ rằng mình đang trong giây phút hiện tại, thực ra đó là lúc chúng ta đang diễn giải hiện tại, chúng ta suy tưởng về hiện tại thay vì thực sự ở trong khoảnh khắc thuần túy đó. Chúng ta có thể tự nhủ "Phải rồi, mình sẽ chính niệm", ta ngồi và nghĩ “Đúng rồi, mình đang chính niệm đây”. Nhưng như vậy không phải là chính niệm, chẳng qua là chúng ta đang nghĩ về chính niệm mà thôi. Trong khoảnh khắc chính niệm thực sự, thậm chí khái niệm về chính niệm cũng không tồn tại. Chính niệm chỉ đơn giản là sự tỉnh thức trực tiếp, rộng mở. Vì tâm bị che mờ và lớp lớp vọng tưởng nên hiện tại không thể hiển lộ đối với chúng ta. Chúng ta có thể cho rằng mình luôn tỉnh thức, thông thái và khôn ngoan nhưng thực ra phần lớn thời gian chúng ta hành xử như một cái máy. Bấm nút và nhận kết quả. Tâm đầy ắp những suy tưởng về quá khứ hoặc tương lai, kẹt mắc giữa những vọng tưởng, mơ mộng, những câu chuyện được thêu dệt, những ý kiến, những bình phẩm và phán xét – như vậy quá khó có thể buông bỏ những vọng niệm này để chỉ chú tâm vào những gì đang thực sự diễn ra. Vì thế, chúng ta cần thức tỉnh chính mình khỏi cơn mê. Khoảnh khắc mà ta đạt được tỉnh thức - dù cho đó chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi - ta có thể nhận ra mình đã mê mờ. Trong trải nghiệm của tâm tỉnh thức rộng mở, mọi thứ đều trở nên sáng rõ. Mọi thứ đều thay đổi, đều được chuyển hóa. Ta nhận ra rằng không chỉ bản thân mình mê mờ mà hầu hết những người khác cũng vẫn còn đang vô minh như vậy.

Đức Phật, vô cùng thực tế và thiện xảo, đã khai thị bằng vô số giáo pháp theo các cấp độ vi tế khác nhau nhằm giúp chúng sinh tiếp cận và thâm nhập thực tại. Ngài bắt đầu với những khai thị về thân - cấp độ thô lậu nhất - bởi thân là trải nghiệm mà tất cả chúng ta đều dễ dàng nhận thấy. Trong lúc sống với thân này, phần lớn thời gian chúng ta không ý thức được về nó, chúng ta hoàn toàn tách biệt với thân. Vì vậy, bước đầu tiên là quay về với hiện tại của thân, chẳng hạn, khi ngồi ta biết mình đang ngồi; khi đứng ta biết mình đang đứng, khi đi ta biết mình đang đi; khi nằm ta biết mình nằm. Chỉ đơn giản như vậy. Chúng ta có thể so sánh việc này như là thức giấc. Nhưng tâm chúng ta chỉ có thể tỉnh thức trong chốc lát rồi lại tiếp tục mê mờ. Thật lạ lùng là tâm luôn muốn ngủ! Do vậy, chúng ta cần nhắc nhở mình trở về với hiện tại bởi đó là khoảng thời gian duy nhất ta thực sự sở hữu. Tất cả những thứ khác đều chỉ là sự phóng chiếu của tâm.

Cách khác để rộng mở tâm hồn trong khoảnh khắc hiện tại là dùng hơi thở. Hơi thở là yều tố liên hệ giữa thân và tâm. Sân hận, sợ hãi, an lạc hay bất kỳ cảm xúc nào mà ta có đều được thể hiện qua hơi thở. Theo truyền thống Phật giáo, hơi thở được ví như con tuấn mã trong khi tâm là người kỵ sĩ. Dù cho thông thường, hít thở là một quá trình tự động, chúng ta hoàn toàn có thể tỉnh thức trong tiến trình này. Và nếu ta có thể thực sự kết nối với hơi thở, hòa nhập vào trong hơi thở, không vọng niệm gì về việc hòa nhập hay kết nối này thì như vậy nghĩa là ta đang thực sự ở trong hiện tại. Bởi hơi thở chính là hiện tại, nó ở ngay đây, trong chính khoảnh khắc này. Khi bạn bị căng thẳng và stress, cách giải tỏa vô cùng thiện xảo là điều phục tâm nương theo hơi thở vào ra. Điều này đặc biệt hữu ích khi ta phải xếp hàng chờ đợi hay đang lái xe. Khi phải dừng trước đèn đỏ, ta có thể nóng ruột nhưng nếu suy ngẫm rằng "đây chính là cơ hội tuyệt vời để thực hành", sau đó, ta xoay sự chú ý của mình về hơi thở, tình huống sẽ thay đổi ngay lập tức. Chúng ta sẽ hoan hỷ với viêc chờ đợi này!

Sự thực hành tu tập còn có một cấp độ khác đó là tỉnh giác nhận thức tâm của chính mình. Đây là cấp độ quan trọng nhất đồng thời khó khăn nhất để thực chứng bởi nó cũng là cấp độ vi tế nhất. Tất cả những Đại thành tựu giả yogi trong quá khứ đều cho rằng cốt tủy của việc thực hành là luôn quán sát tâm tại mọi thời điểm. Đây dĩ nhiên là căn bản của việc thực hành tu tập về tâm. Nhưng thế nào là giữ tâm tỉnh giác, sáng suốt? Ví dụ kinh điển là hình ảnh một người ngồi bên bờ sông quan sát dòng nước đang chảy trôi. Ví dụ khác nói về một người chăn cừu khéo léo, thiện xảo chăn dắt bầy cừu của mình.

Thiền định cũng bao gồm cách thức cứng nhắc và cách thức thiện xảo. Theo cách cứng nhắc, hành giả thiền định bằng cách cột chặt tâm mình đề giữ cho nó tỉnh thức, khiến tâm không có lối thoát và trở nên bí bách, căng thẳng. Bạn có thể thấy rằng, khi thiền giả quá gắng sức dồn ép tâm, hậu quả là họ thường bị xáo trộn các nguồn năng lượng bên trong cơ thể - người Tây Tạng gọi đó là "loong”. Khi đó, hành giả thường trở nên bực bội, muốn gào thét. Điều chúng ta cần là tâm thật sự thư giãn, tĩnh tại. Tâm cần trở nên rộng mở, sắc bén và tỉnh giác. Điều đó hoàn toàn khác với trạng thái hôn trầm (tức tâm mê mờ, ngủ gật) hay vọng tưởng (tâm lăng xăng, xao động). Nó cũng không có nghĩa là mọi thứ phải căng thẳng và mọi niệm hiện khởi phải gò ép theo một thứ tự hình thành nhất định. Một cách vô cùng đơn giản, tâm cần được rộng mở và sáng rõ.

Thực tại duy nhất mà ta có được chính là những gì đang diễn ra, ngay tại đây và ngay lúc này. Nếu ta phóng tâm với những mộng tưởng, ký ức, hy vọng và sợ hãi, chúng ta sẽ bỏ lỡ mất thực tại này và toàn bộ cuộc sống của ta chẳng khác gì giấc ngủ của mê mờ triền miên. Chúng ta làm sao có thể biết mình thực sự là ai khi mà mình không bao giờ ở trong thực tại?



Tác giả bài viết: Ni sư Tenzin Palmo



Nguồn tin: Drukpa Vietnam

SÂN HẬN-MỘT CẢM XÚC HỦY HOẠI ( sưu tầm)

SÂN HẬN-MỘT CẢM XÚC HỦY HOẠI ( sưu tầm)

Bạn có tức giận không? dĩ nhiên tất cả chúng ta không ai phủ nhận điều đó.Đôi khi ta bực tức, khó chịu cáu kỉnh.Chúng ta giận dữ hoặc điên tiết với người này hoặc người nọ vì lý do này hay lý do kia.Có nhiều sự việc, hoàn cảnh khiến ta cảm thấy bực mình khó chiu, thường làm chúng ta nổi cơn thịnh nộ giận dữ khi sự việc không xãy ra theo ý mình.Chúng ta muốn mọi việc được thể hiện theo một chiều hướng nào đó nhưng lại diễn biến theo hướng khác, thế là ta lại đùng đùng nổi giận.
Đôi khi ta mong đợi một điều gì đó xãy ra ( như tăng lương chẳng hạn ) nhưng nó lại không xảy đến, ta cảm thấy bực mình cáu kỉnh,Kế đó có kẻ trêu tức làm tổn thương lòng tự ái của chúng ta.Họ dễ dàng làm chúng ta nổi khùng.
Quả thật chẳng thiếu gì những trường hợp làm chúng ta nổi giận.Nếu chiệu khó quan sát phản ứng và lời nói của chúng ta trong đời sống hằng ngày, ta sẽ thấy nhiều lúc mất bình tỉnh hoặc sút chút nữa không kiềm chế được cơn giận.Sự tức giận biểu lộ qua cung cách nói ,thái độ, nét mặt,sự bực tức trong giọng nói,gắt gỏng và lớn tiếng-và khi không còn kiềm chế được, chúng ta bắt đầu quát tháo la hét,đá,đóng sầm cửa,đập bàn,đặt điện thoại mạnh tay hoặc thậm chí hành hung một người nào đó.Trong vài trường hợp cực độ,có người qua đời vì tức giận:khi cơn giận dữ lên cao độ,họ ngã ra chết vì chứng đột quỵ tim. Sự giận dữ thay đổi theo cường độ.Với người nóng tính nó dễ bộc phát, với người ôn hòa, họ có vẽ trầm tĩnh .Có kẻ vẫn nuôi lòng oán hận lâu dài sau khi cơn giận trôi qua trong khi người khác lại dễ dàng tha thứ.Dù trường hợp nào đi nữa, thì sự thật là trong chúng ta ai cũng có cảm giác tức giận,chỉ khác nhau về mức độ và tần số cảm xúc. Ngay cả những người ôn hòa nhất cũng có lúc biểu lộ bực mình khó chịu khi sự chịu đựng vượt quá giới hạn hoặc chịu quá nhiều áp lực căng thẳng.
Chúng ta nên giận dữ không ???
Có sự tức giận nào được chấp nhận không ?Giận dữ quát tháo người khác, mất bình tĩnh,đùng đùng nổi giận,tất cả những điều này đúng hay sai ?Giận dữ là một lối sống giữa những con người trên cõi đời này chăng ?Chúng ta đón nhận nó như thể được ban tặng và chấp nhận như là một điều tự nhiên, không thể tránh được? đọc báo hằng ngày, chúng ta thấy đầy dẫy cơn tức giận và lòng thù địch trên hành tinh chúng ta

Khi đọc tin tức về cuộc chiến tranh xung đột liên tuc ở nhiều nơi trên thế giới,ta có dừng lại để tự hỏi tai sao con người không thể sống chung hòa bình như anh chị em được chứ ?Sao chúng ta lại quá hiềm thù, tàn nhẫn,thiếu vắng lòng khoan dung?vì cớ gì một số người sẵn sàng tàn sát những kẻ vô tội để đạt được tham vọng của mình? tại sao? tại sao các nước lại đua nhau chế tạo những vũ khí hạt nhân hủy diệt mọi người trên thế giới? Sao lại có quá nhiều lo âu và ngờ vực lẫn nhau ?

Sự sân hận bắt nguồn từ cõi lòng chúng ta và tình thương cũng thế.Chúng ta chắc chắn rằng sân hận là tội ác, phải triệt để ngăn cấm nó hoạt động trong trái tim và tâm hồn chúng ta.Nó là một cảm xúc mang mầm mống hủy hoại tạo ra bao thống khổ trên đời .Nó phát sinh từ tâm,và ngay tại nguồn gốc khởi thủy này, nó phải được kiểm soát để loại trừ.

Sân hận làm đời ta đau khổ, nếu ta tiếp tục chấp nhận và không cố gắng chế ngự nó, có nghĩa là ta tiếp tục sống cuộc sống hỗn loạn
Cứ mỗi phút sân hận làm bạn mất 60 giây hạnh phúc.

( Ralph Waldo Emerson )
Sống không giận, không hờn, không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách chông gai
Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
Sống an hoà với những người chung sống
Sống là động nhưng lòng luôn bất động
Sống hiên ngang danh lợi mãi xem thường
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến !
VẾT THƯƠNG

Không rõ tác giả

Một cậu bé có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh và nói với cậu bé rằng mỗi khi cậu nổi nóng thì hãy chạy ra đằng sau nhà đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ.
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần cậu bé đã tập kiềm chế cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào mỗi ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình thì dễ hơn là phải đóng cây đinh lên hàng rào.
Một ngày kia, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu nói với cha và ông bảo cậu hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng rào mỗi một ngày mà cậu không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần.
Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một bữa cậu bé tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu đã cùng cậu đến bên hàng rào. Ở đó ông nói với cậu rằng "Con đã làm rất tốt, nhưng hãy nhìn những lỗ đinh trên hàng rào. Hàng rào đã không thể giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói đó cũng giống như những lỗ đinh này, để lại những vết sẹo trong lòng người khác. Dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn ở lại. Vết thương tinh thần cũng đau đớn như những vết thương thể xác vậy. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con trong mọi chuyện. Họ nghe con nói khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở rộng tấm lòng mình cho con. Hãy nhớ lấy lời cha..."

Cứ mỗi lần bực mình,khó chịu,tức giận, chúng ta lại bắt đầu thiêu đốt chính mình.Cảm giác cháy bỏng gia tăng theo cường độ của cơn giận: càng giận dữ ta càng cháy bỏng nhiều hơn.quả là một cảm giác vô cùng đau khổ.Bạn có thể quan sát điều này nơi chính bạn.Khi bạn rơi vào tâm trạng bực mình,tức tối,hãy quan sát trạng thái của tâm rồi bạn sẽ phát hiện ra được nổi đau đớn thống khổ mà bạn đang chịu đựng trong lúc tức giận hoặc rối lọan.

Sân hận là tình trạng bất ổn của tâm.Đức phật không bao giờ chấp nhận bất cứ sự sân hận nào.Đối với phật giáo, hòan tòan không có cái gọi là sân hận chánh đáng.Tất cả sự sân hận, dù ở mức độ nhẹ nhất cũng là bất ổn.Nó được xem là thuốc độc gây hại cho TÂM.Do đó ,Đức phật kêu gọi chúng ta lấy tình thương báo đáp thay vì thù hận.Phật thuyết:” Lấy óan báo óan, óan ấy chất chồng. Lấy ân báo óan óan ấy tiêu tan”.Có lúc ngài cũng đã kêu gọi:”Hãy chinh phục con người đầy thù hận bằng long từ ái”

Để nhấn mạnh điểm này, trong buổi giảng đọan pháp so sánh,đức phật thuyết rằng thậm chí kẻ cướp chặt đứt chân tay của chúng ta, ta cũng không nên khởi dù nhỏ nhặt nhất.Nếu ta khởi lên một chút sân hận, nghĩa là ta không còn tuân theo lời dạy của ngài.Thay vào đó, đức phật khuyên ta nên thương xót kẻ hành hạ mình.Phật thuyết:”Vì vậy, các ngươi phải rèn luyện chính bản thân mình”. Ngài nói tiếp:”Nếu tâm bình thì ác khẩu không khởi,tâm chỉ còn niềm cảm thong trọn vẹn và cởi mở, một tấm long đầy từ ái, không còn chi phối bởi bất cứ ác nghiệp nào.Với tâm từ bi rộng lớn,sâu thẩm vô biên, ta sẽ cảm hóa những kẻ ác nghiệp thóat khỏi sân hận và óan thù”

Sự thành tựu tâm từ bi của đức phật là thế đấy.Khi còn là một vị bồ tát, trải qua vô số tiền kiếp chịu đựng biết bao tra tấn hành hạ đến chết vẫn không khởi lên một chút sân hận nào với kẻ hại mình.Trong kiếp cuối cùng đắc quả phật, Ngài luôn thanh thản,không bao giờ đánh mất sự trầm tỉnh và thanh tịnh.Lúc con voi điên cuồng Nagagiri đâm bổ tới tấn công đức phật.Ngài đã khuất phục nó bằng cách hướng long bi mẫn thương xót về nó.Thời gian 45 năm hoằng pháp của đức phật không ngừng nghỉ là một minh họa về long từ bi thương xót chúng sanh.

Dĩ nhiên, đức phật không phải là bậc giáo chủ duy nhất rao giảng long từ bi:các bậc gíao chủ khác đều làm như thế.Chúa ki-tô dạy:”hãy yêu thương láng giềng cũa con như chính bản thân con”.”Nếu có ai tát vào má phải của con,con hãy chìa má bên trái ra”.Thánh Mahatma Gandhi, chủ trương bất bạo động, dạy rằng:”Nếu máu phải đổ,thì đó hãy là máu của chúng ta.Hãy học tập long can đảm thầm lặng,thà chấp nhận chết quyết không giết hại kẻ thù.Với một kẻ mà sự sống có nghĩa là sẵn sang chấp nhận cái chết trong tay đồng bào ruột thịt của mình nếu cần,thì không bao giờ giết hại họ”.Điều này gợi nhớ đến câu chuyện một vị sư bị một tay kiếm khách hung tợn đe dọa.Tay kiếm khách hét lên:”Bộ nhà ngươi không biết ta là kẻ giết người không chớp mắt sao chứ ??”.Vị sư đáp”Vâng thưa ngài,tôi là kẻ sẵn sang chết mà không chớp mắt đây”.Trước một người dũng cảm như thế.Tay kiếm khách quay bước bỏ đi.

Ngòai việc gây độc hại cho tinh thần,cơn sân hận và long thù địch còn tạo ra mối hiểm nguy cho cơ thể chúng ta.Y học đã khẳng định sự tức giận cùng những cảm xúc vô bổ khác đều góp phần tạo nên bệnh tật.Khi tức giận cơ thể phóng thích một số hóa chất làm rối lọan sự điều hòa cơ thể.Nếu buồn phiền sân hận thường xuyên thì lâu dài sẽ dẫn đến nhiều bệnh tật như lóet bao tử, rối lọan tiêu hóa, táo bón, cao huyết áp,rối lọan tim mạch, thậm chí ung thư

Nói cách khác,sự trầm tỉnh và thanh thản giúp người ta ổn định tinh thần lẫn thể xác.Chúng ta sẽ khỏe hơn,hạnh phúc và sống cuộc sống trọn vẹn hơn.Một số bệnh kinh niên, chẳng hạn như rối lọan tiêu hóa, sẽ không còn.Những bệnh trạng khác cũng có thể bị đẩy lùi dần.Sự thanh thản tươi sang của tâm hồn thư thái biểu lộ qua dáng vóc,diện mạo chúng ta,đến đâu ai cũng quý mến.Chẳng ai trên đời thích chung đụng với kẻ cáu gắt, dễ nổi giận bao giờ:Thí dụ như một ông chủ lúc nào cũng châu mày quát tháo nhân viên,đều bị mọi người xa lánh và chán ghét, nhân viên sẵn sang bỏ việc ra đi nếu có dịp.Ngược lại, một người chủ luôn vui vẻ, tốt bụng ,sẵn sang giúp đỡ, không bao giờ nổi nóng thì ai cũng yêu thương và quý mến. Với một người chủ như thế thì chẳng nhân viên nào bỏ đi dù nơi khác có trả lương cao hơn.

Thêm vào đó, tính tình đức hạnh của bạn gây ảnh hưởng với tất cả những ai tiếp xúc với bạn. Bạn sẽ là tấm gương người khác noi theo.Để thay đổi thế giới này, ngòai cách làm gương mẫu cho người khác noi theo còn cách nào tốt đẹp hơn, chân thực hơn nữa chứ ??? Đúng vậy, bằng cách thay đổi chính bản thân chúng ta và làm gương mẫu cho người khác, chúng ta đã thực sự đóng góp tích cực cho thế giới này tốt đẹp hơn.Điều đáng để cho chúng ta suy gẩm là: Thế giới này là tất cả mọi người,mọi người làm nên thế giới này.Vậy nếu bạn thay đổi mọi người có nghĩa là bạn đang thay đổi cả thế giới. Và bạn hãy bắt đầu với chính bản thân mình.Sau cùng thì bạn cũng là một con người trong số những con người trên thế giới này đó chứ ??. Do đó, khi bạn thay đổi chính mình có nghĩa là bạn đã thay đổi thế giới với ý nghỉ rằng thế giới này đã giảm đi một người nóng tính. Nếu thêm nhiều người tự thay đổi thì thế giới sẽ thay đổi thêm ở phạm vi đó. Sự xung đột và rối lọan trên thế giới sẽ sụt giảm khi có nhiều hơn nữa những người yêu chuộng hòa bình ở khắp nơi.

Nhận chân được tai hại mà cơn sân hận đem đến cho ta và tha nhân, chúng ta hãy xua tan nó đi và mở rộng tình nhân ái,quan tâm và chịu đựng, hiền hòa và tốt bụng. Đừng cư xử khắc nghiệt và cũng không nên làm cho kẻ khác bối rối, hoang mang, ngượng ngùng và sợ hãi. Hãy nhìn xem chung quanh ta: Thế giới này đã quá nhiều khổ đau rồi, đừng chồng chất thêm nữa.Thay vào đó, chúng ta hãy tạo nên một nguồn sống an lành thanh bình, như thể một ngọn đèn thắp sang cho cả thế giới để những ai đến với tình thương đều sống an lành, hạnh phúc hơn.

Quyết tâm kiềm chế sân hận và ban rãi tình thương chỉ là bước đầu tiên. Bước kế tiếp là làm thế nào để thực hiện được.Thật không dễ kiểm sóat cơn giận khi nó bộc phát. Cần nhiều nổ lực và sự khéo léo mới có thể chế ngự nó. Do đó, trong những trang sau, chúng ta sẽ thảo luận về phương hướng kiềm chế sân hận. Chủ yếu gồm có chánh niệm (jati) và quán chiếu sáng suốt (yoniso manasi kàra). Bằng cách chú tâm,ta có thể bóp tan cơn giận ngay khi còn trong trứng nước, ngay cả khi nó chuẩn bị khởi lên,và xét đóan nhiều khía cạnh nguyên nhân tại sao ta không nên bực tức,điều này sẽ nhắc nhỡ củng cố ý nguyện tha thiết tống khứ sự cáu kỉnh ra khỏi tâm thức tan gay tức thời để buông bỏ nó như buông rơi một viên gạch nóng bỏng, nếu có thể nói như thế.Trong phần 3, chúng tôi sẽ trình bày sự quán tưởng lòng từ bi (mettà bhavanà),đây là phương pháp “ đối trị” hữu hiệu nhất với sự sân hận.Chúng tôi tin rằng nếu đọc giả chịu khó xét đóan nhiều nguyên nhân tại sao mình không nên bực tức thì đọc giả không còn muốn sân hận chút nào nữa, và lần kế tiếp nếu sự tức tối khởi lên, đọc gỉa chỉ muốn buông nó ngay lặp tức. Cùng lúc trao dồi chánh niệm và long từ bi,đọc gỉa sẽ đưa được con ma sân hận tới nơi yên nghỉ.

Nguyện cho tất cả chúng sanh được an lạc. Nguyện tất cả chúng sanh nhổ bật cội rễ sân hận óan thù để trở thành hiện thân của tình thương bao la, trí tuệ và bi mẫn
PHÁP ĐỐI TRỊ SÂN HÂN

Quy luật đầu tiên.
Chánh niệm là người bảo vệ đầu tiên và hữu hiệu chống lại sân hận cùng với những bất ổn của tâm. Thế nào là chánh niệm? Đó là sự hiện diện của tâm, thức giác,biết rõ những gì đang xảy ran gay thời điểm khởi phát.Do đó giây phút sân hận khởi lên,ta phải áp dụng chánh niệm.Ta phải nhanh chóng nhận thức ra sự khởi lên của cơn sân hận trong ta .Ta phải chú ý , xác định hay nhủ thầm:” A! Cơn giận ở trong ta,cơn giận đang khởi lên trong ta”. Hoặc ngắn gọn như “ sân hận, sân hận”. Và nếu không thích nhủ thầm như thế, ta chỉ cần ý thức sự hiện hữu của sân hận là được.

Cơn sân hận khởi lên đây đó và sự hiện diện của nó được xác nhận, đơn giản chỉ cần nhận biết nó, cũng mang lại lợi ích trong việc kiểm sóat cơn sân hận. Tại sao ? Bởi vì, bất cứ khi nào sự bực tức khởi lên, bao giờ nó cũng nhận chìm chúng ta trước khi chúng ta phát hiện ra nó.Nó tạo ra đám mây mù che kín tâm ta và làm tê liệt sự xét đóan nhạy bén của chúng ta. Nói cách khác, sự giận dử hòan tòan chế ngự tâm thức ta. Vào lúc này,hầu như chúng ta thực sự không còn tỉnh giác nữa, nếu có còn chăng chỉ là tâm trạng phẫn nộ trong ta.Thay vì đáp trả, phản ứng với nó,chúng ta lại để nó nút chửng mình. Sắc mặt ta biến đổi, chúng ta bắt đầu ăn nói hằn học,khoa chân múa tay,thậm chí chửi mắng người nào đó. Chánh niệm giúp ta giải quyết tất cả vấn đề này: nó ngăn chặn không cho cơn giận nhấn chìm chúng ta.Nó lập nên sự hiện hữu tối cần của thức giác . Chỉ cần nhận biết rỏ cũng giúp giải tỏa được cảm xúc sôi sục.Thay vì đáp trả,phản ứng với cơn sân hận,chúng ta lặng lẽ quan sát nó,dỏi theo cảm xúc bực tức nóng nảy.Và trong quá trình quan sát như thế,cơn sân hận lắng dần.Thọat đầu,nó suy yếu từ từ rồi tan biến đi.

Hơn nữa, trong khi quan sát cơn sân hận,ta không hề mảy may để ý đến người, vật, hoặc bối cảnh khiến ta phẩn nộ.Chúng ta hướng vào bên trong,chú tâm đến trạng thái tâm thức của mình, chú ý dỏi theo sự hiện diện của cảm xúc giận dử.Thật hợp lý, khi chúng ta chuyển dịch sự chú ý từ nguyên nhân gây phẩn nộ sang sự nhận biết chân thật chính cơn phẩn nộ đó, vì là một cảm xúc nên cơn giận sẽ giảm dần. Nếu chúng ta chỉ tiếp tục chú ý đến nguyên nhân ( chẳng hạn như một kẻ nào đó) làm ta bực tức thì dĩ nhiên ta sẽ trỡ nên giận dữ hơn. Nhưng khi chánh niệm lóe sang, sự bực tức không còn phát triển được nữa. Nó bị chận đứng, và nếu ta tiếp tục chú ý quan sát, nó sẽ lắng xuống dần, cuối cùng tan biến đi.

Điều kỳ diệu là sự tức giận tự tan biến đi mà không cần phải đè nén hoặc chống lại nó. Bạn không cần nghiến răng, nắm chặt bàn tay lại hoặc dung tòan thể sức mạnh tinh thần để kiềm chế nó: chỉ cần lặng lẽ quan sát,nó sẽ giảm dần và biến mất. Đây là phép lạ của chánh niệm.Điều này thật rỏ rang, nhất là giai đọan tập trung tư tưởng cao độ của thiền giả, chánh niệm đặc biệt nhạy bén, có thể hạ gục sân hận hoặc bất kỳ sự bất ổn nào của tâm bằng biện pháp đơn giản: chú tâm.

Điều lợi của chánh niệm là cho ta cơ hội lắng tâm và đưa ra quyết định đúng đắn. Khi chú tâm để nhận ra sự hiện diện của sân hận, chúng ta không bị cuốn hút theo cảm xúc. Chánh niệm cho ta thời gian để quán chiếu và quyết định hướng giải quyết sang suốt. Trong lúc lắng tâm, chúng ta có dịp may để thực tập những điều mà đức phật thường hay đề cập như là yoniso manasikàra bằng cách quán các pháp về tội lỗi và tai hại của sân hận.Trong quá trình quán, sân sẽ tự yếu dần và khi mà càng lúc ta lại càng chẳng muốn sân nữa thì sân hận sẽ thoái lui. Ý niệm không tức giận hoặc ý niệm không còn tiếp tục tức giận nữa sẽ sanh khởi và cuối cùng sân hận tan biến.

D0 đó, quy luật đầu tiên là thực tập chánh niệm. Nếu chánh niệm trở thành thói quen luôn chú tâm đến những thay đổi đầy ý nghĩa trong tâm thức, thì bạn sẽ trở thành người có bản lĩnh đến độ có thể “chộp bắt” sự bực tức ngay thời điểm nó sanh khởi.Bạn có thể cảm nhận và biết rõ nó đang lớn dần, và bằng vào nhận thức chân thực đó, bạn bóp tan nó ngay từ trong trứng nước, lọai trừ nó hòan tòan trước khi nó hiện trên nét mặt hoặc bộc lộ qua cử chỉ của bạn.Đó là điều kỳ diệu của chánh niệm-có khả năng đốn ngã tức khắc sự bất ổn của tâm.

Vấn đề kế tiếp là làm thế nào quán tưởng các pháp để lọai trừ sân hận nếu như ta không thể tống khứ hòan tòan nổi bực tức bằng pháp chánh niệm. Có nhiều pháp để quán, ở đây chúng ta xem xét nhiều lọai quán khác nhau. Chúng tôi nghỉ rằng bạn đọc đến trang cuối,bạn sẽ tin chắc là mình sẽ không còn muốn bực tức, cau có nữa và nhận thức rõ sự tức giận chẳng mang đến lợi lạc nào cả. Bạn sẽ không bao giờ muốn nổi nóng nữa. Chỉ riêng sự tin chắc này thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc trong việc đưa tinh thần bạn hướng đến sự cảm nhận mối quan hệ bạn bè thân thiết, chấm dứt bực tức, khó chịu, hướng tới sự an tịnh và thanh thản
http://www.thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=13714

Làm tâm mở

Người đang trong giấc mộng thì không biết được mình đang mộng.Để mình tỉnh thì mình phải chấp nhận rằng: À mình đang mơ.
Cuộc sống luôn thay đổi rất nhanh nhiều điều bất ngờ , nhưng cái đầu ta thì không chịu thay đổi.Vì thề mà bao nhiêu rắc rối phiền não do cái đầu tạo ra vi không phù hợp kịp với sự thay đổ của cuộc sống.Bí quyết để giải quyết vấn đề này là để cái đầu mở.

Hai bí quyết :

Thứ nhất xóa bỏ mọi trật tự của đầu óc và hai là tập cho đầu óc có cách làm việc mới trên các khái niệm của thế giới này.

1) Bảy cách làm xáo chộn trật tự của đầu óc

-Không tin vào cái thấy về chính mình và về thế giới như trước đây nữa để có cái thấy mới.
-Không tin vào những suy nghĩ và những đánh giá , những kết luận của mình trước đây nữa , để đầu óc được nghỉ ngơi và làm việc theo cái thấy mới.
-Tất cả mọi dữ liệu mà mình đã có trong đầu để tin dùng như là thứ tài sản vô hình ,thì bây giờ đừng bám víu vào chúng nữa, để đầu óc được hoàn toàn tự do,giống như một mảnh đất đã được khai hóa cho những cây cối mới sẽ được trồng lên, để vườn cây như vườn địa đàng có thể chu cấp cho nhu cầu sống hàng ngày của chúng ta vây.
-Hãy tập nghi ngờ về logic suy nghĩ của mình đã thành vết hằn trong đầu khó thay đổi cho đầu óc hoạt động trong logic của tính tự nhiên.Loại logic này , chúng ta chưa thể viết ra được .Nó là kết quả của nỗ lực chối bỏ những thói quen cũ của đầu óc.
-Hãy tập nhìn ngược mọi thứ mà đầu óc cũ bắt mình phải theo hướng cũ của nó để khám phá những giá trị mới lạ mà ta khó nhìn thấy.
-Hãy định tâm tìm hiểu những đặc tính tinh thần của mình như là những đặc điểm tâm lý và triết lý sống riêng của mình lâu nay và làm chủ đầu óc mình hay lâu nay mình cho rằng là giá trị cá biệt của mình.Rồi từ đó đặt nghi vấn về giá trị thực của nó và dùng lý chí chối bỏ nó.Từ đó ,những đặc tính kỳ diệu sẽ phát triển cũng giống như môi trường mới sẽ sản sinh ra sự sống mới phù hợp vói nó vậy.
-Hàng ngày coi chừng cái đầu liên tục để nhận biết những trở ngại của đầu óc đang làm mình khó chịu và dùng ý chí để phủ nhận những cái thấy đã đưa đến sự khó chịu đó.
_Sử dụng tên phật của mình để đánh thức cái nhìn nguyên thủy và tránh được cái nhìn từ kinh nghiệm hay kiến thức từ những cảm xúc yêu thương có tình sở hữu.
2) Tập cho đầu óc làm việc theo cách mới.
Nhìn mọi sự việc và mọi sự vật không như tên gọi,không theo khái niệm đã được loài người qui ước.
Tại sao?Vì nếu dùng tên gọi sẽ đánh thức các dữ liệu cũ trong đầu sống lại và những ý tưởng những ý nghĩ, những cảm xúc lại nổi lên, và chúng ta khó mà kiểm soát được chúng,đồng thời nó không cho ta sự thấy mới mẻ hơn, toàn diện hơn.Nói tóm lại hãy nhìn sự vật , sự việc như nó đang là.

Thursday, August 29, 2013

NGUỒN GỐC CỦA TAI NẠN, KIẾT HUNG HỌA PHƯỚC

NGUỒN GỐC CỦA TAI NẠN, KIẾT HUNG HỌA PHƯỚC


Mục đích cao nhất của người học Phật chính là chuyển phàm thành thánh. Nhà Phật thường nói, giáo dục của Phật Đà dạy người ba cái chuyển biến. Thứ nhất là chuyển ác thành thiện, thứ hai là chuyển mê thành ngộ, thứ ba là chuyển phàm thành thánh. Bạn phải biết bắt đầu chuyển từ đâu. Tâm của chúng ta vốn dĩ là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, giác ngộ, từ bi, nhưng hiện nay năm điều này thảy đều không còn nữa, biến thành hư ngụy, nhiễm ô, kiêu mạn, ngu si, tự tư tự lợi. Chúng ta thử nghĩ có phải như vậy không? Bản thân ta như vậy, thử nhìn lại xung quanh, người khác cũng như vậy, cho nên thế gian này mới có kiếp nạn, mới có thiên tai nhân họa. Chúng ta hiện nay sống trên bờ vực của cái tai nạn lớn này, có thể sẽ rất nhanh chóng gặp phải. Làm thế nào cứu vãn? Làm thế nào có thể tránh khỏi đây?

Tránh hung tìm kiết, quan niệm này cổ kim, trong ngoài, tất cả mọi người đều biết, nhưng cách tránh hung tìm kiết như thế nào thì không biết. Ở nơi này có tai nạn, không tốt, chúng ta tìm một nơi khác để di dân, có được không? Không chắc! Ngạn ngữ nói: “Tại kiếp nan đào”, có số kiếp này, bạn trốn đến nơi nào cũng đều vô ích, bạn vẫn phải chịu kiếp nạn này. Đây là chân lý, là đạo lý nhất định.

Phải làm thế nào mới có thể tránh khỏi vậy? Nhất định phải làm cuộc chuyển đổi từ trong tâm địa, đây là chính xác. Khu vực này gặp nạn, bạn vẫn có thể tránh khỏi. Nhà Phật nói trong cộng nghiệp có biệt nghiệp (biệt nghiệp là không cộng nghiệp). Cho nên, chúng ta làm sao hồi phục tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chúng ta. Tôi nói năm câu này, chỉ cần hồi phục một câu thì bốn câu khác thảy đều hồi phục; có một điều là có đầy đủ bốn điều khác, bất kỳ một điều nào cũng đầy đủ viên mãn bốn điều khác. Trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Một tức là nhiều, nhiều tức là một”. Chúng ta làm một cuộc chuyển đổi từ chỗ này, nhất định phải đoạn, phải buông bỏ, phải bắt tay làm từ căn bản, đem ái dục buông bỏ, đem thị dục buông bỏ (thị dục là thị hiếu, những thứ mà trong tâm ưa thích), xa lìa danh vọng lợi dưỡng, xa lìa ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), làm như vậy mới có thể tiêu tai miễn nạn. Nếu như ái dục, thị hiếu của bạn không buông bỏ được, thì trong thế gian này bất luận bạn lẫn trốn đến nơi nào, bạn cũng không tránh khỏi kiếp nạn. Chúng ta phải biết đạo lý này.

(trích Phật Thái Thượng Cảm Ứng Thiên - tập 9)
Pháp Sư Tịnh Không
www.phapsutinhkhong.com

Làm ác thì sẽ bị điều ác ám ảnh, khủng bố


Làm ác thì sẽ bị điều ác ám ảnh, khủng bố

* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *
Trên đường đi Tokyo, kiếm sĩ Tama gặp một vị sư già mình hạc sương mai, khuôn mặt xanh gầy nhưng luôn luôn tươi cười. Sau mấy ngày đồng hành, họ trở nên thân thiết. Đạo sĩ cho biết, đã nhiều năm, đi khắp nước Nhật khuyến hóa, dành dụm được 200 lạng vàng để trong cái bị vải này, nay đi Tokyo tìm thợ lành nghề về làm chùa. Ban đầu, Tama cố xua đuổi những ý nghĩ bất chính. Lần hồi, lòng tham làm mờ lý trí: “Ta đã hơn 40 tuổi. Kiếm sĩ đến tuổi này bắt đầu trở về già, vô dụng. Suốt một đời vào sinh ra tử mà vẫn nghèo khổ. Với số vàng kếch sù này, chắc chắn ta sẽ được nếm mùi sung sướng”.

Đạo sĩ đi bên cạnh một tay anh hùng, cho rằng mình đã gặp một hộ pháp đắc lực nên yên tâm, tay mang vàng mà đi, không lo ngại chi cả. Đường đi bị gián đoạn bởi một eo biển, phải dùng thuyền mới qua được. Tama dìu nhà sư vào phía sau, một chỗ vắng khuất. Túi vải để ở giữa hai người. Vờ trỏ một con cá nhảy lên khỏi mặt nước, thừa lúc nhà sư nghiêng hẳn mình cúi xem, Tama đẩy nhẹ một cái. Nhà sư té xuống biển chìm nghỉm. Để thuyền đi một quãng thật xa, Tama la lớn: “Ông bạn té xuống biển rồi! Xin ngừng thuyền lại!”.
Gió đang thổi mạnh. Buồm căng đưa thuyền đi vùn vụt. Lái thuyền cố gắng neo thuyền lại, nhảy xuống nước tìm quanh nhưng chẳng thấy dấu vết nhà sư.
Đến Tokyo, Tama tự xưng là Tô Cự Bi, một nhà buôn gạo. Thanh kiếm cất kỹ đáy rương. Ông buôn bán rất phát đạt, tậu nhà, lấy vợ, có con v.v… nhưng không sao quên được hình ảnh nhà sư. Một thấp thoáng buồn rầu cứ lảng vảng trên vầng trán. Ông nguyền rủa sự nghèo đói. Chính nghèo đói là động cơ làm bậy, tạo tội ác.

Bao nhiêu năm trôi qua. Một đêm, Tô Cự Bi dạo trong hoa viên, bỗng để ý đến một cây tùng. Hình như một bóng người mờ ảo, dần dần hiện rõ. Mồ hôi Tô Cự Bi vã ra như tắm. Ông hốt hoảng hét lên: “Kìa nhà sư! Kìa nhà sư!”.
Đêm đêm, Tô Cự Bi để thanh kiếm ở đầu giường. Hễ thấy ma là cứ chém tới tấp. Cựu kiếm sĩ chém rất trúng. Song, cái thân như sương như khói kia cứ tan lại tụ. Bóng ma cứ xán lại muốn ôm choàng lấy người ông.

Cuộc chiến đấu giữa người và ma cứ thế kéo dài suốt đêm. Cây tùng đã đốn. Cửa phòng cứ tắt mặt trời là đóng chặt. Nhà Cự phú hoảng hốt lo sợ, đêm này sang đêm khác. Thế là phát bệnh nặng. Thuốc men bao nhiêu cũng không thuyên giảm. Vợ con đi lễ Phật lễ trời, cầu thần Thánh khắp nơi. Nghe đồn có một Hòa thượng đại đức, ai gặp khó khăn Ngài cũng hết lòng giúp đỡ. Vợ Tô Cự Bi vội vàng cung thỉnh.

Vừa trông thấy Ngài, Tô Cự Bi la hoảng: “Đó… đó… nhà sư! Nhà sư về báo thù! Trời ơi! Ai cứu tôi với!”. Ông run cầm cập, vơ vội chăn mền, trùm đầu để trốn hình ảnh người đối diện. Hòa thượng yêu cầu gia quyến lui hết, Ngài ở lại một mình, ngồi bên giường:
- Phải, tôi là nhà sư! Tôi chính là người đã bị ông xô xuống biển.
Cái chăn trùm trên người Tô Cự Bi run mạnh.

- Nhưng này Tama, tôi không phải là hồn oan! Tôi còn sống. Hôm đó rơi xuống biển, tôi đã bơi thẳng vào bờ thoát chết. Vì tôi vốn giỏi bơi lặn từ nhỏ. Chẳng biết ông ở đâu mà tìm, tôi lại đi khắp nơi khuyến hóa. Chùa đã làm xong. Sự tình cờ đưa tôi đến đây. Có lẽ vì vợ con ông đã thành tâm cầu nguyện. Ông yên tâm. Tôi là kẻ tu hành. Tôi vâng lời Phật tha thứ cho ông!
Tô Cự Bi mở chăn lấm loét nhìn. Nhà sư đang mỉm cười nói với ông. Ôi! Nụ cười đầy khoan dung, hiền hòa! Ông khóc nấc lên, vùng dậy quỳ xuống: “Xin Ngài tha tội cho con, chỉ vì con quá khốn khổ!…”.

- Phải, nghèo khổ đẩy con người vào tội lỗi, nhưng biết sám hối tội sẽ nhẹ đi…
- Thưa, lương tâm con dày vò, con hối hận vô cùng!…
- Phải rồi… Nhà sư và cựu kiếm sĩ nói chuyện với nhau thân mật y như năm xưa họ gặp nhau trên con đường đi đến Tokyo. Tô Cự Bi khẩn khoản xin trả lại 200 lạng vàng và cúng thêm 200 lạng nữa.
- Tôi đã làm xong Phật sự rồi!
- Không nhận tức là chưa tha thứ!
- Vậy tôi xin nhận để chia cho dân nghèo. Tôi xin cáo từ và gửi lại ông bạn một lời của Phật tổ:
“Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng,
Lấy đức báo oán, oán sẽ tiêu tan!”.

Nhà phú thương Tô Cự Bi hết bệnh, tâm hồn thư thái. Ông trở thành một con người rất nhân đức, cứu giúp những ai cần. Đối với người dưới, ông rất rộng lượng. Đối với bạn buôn, ông rất khoan hòa. Bàn tay ông rất rộng rãi đối với tất cả người khốn nghèo. Ông dùng nửa đời về sau chuyên để làm những việc lợi ích, gặp ai, ông cũng khuyên niệm Nam mô A Di Đà Phật.

(TT. Thích Chân Tính biên soạn)

Monday, August 26, 2013

KHÔNG NÊN CHỈ BIẾT NHÌN BẢN THÂN

KHÔNG NÊN CHỈ BIẾT NHÌN BẢN THÂN


Có 1 người có rất nhiều tài sản , nhưng ông ta rất keo kiệt , chưa bao giờ hành thiện .
Ông ta cảm thấy mình rất đau khổ , ko có ngày nào là vui cả , nên đã đi cầu đạo 1 vị thiền sư .
Thiền sư bảo rằng , trước khi trả lời câu hỏi của ông , phú ông nhất định phải trả lời mấy câu hỏi sau .
Phú ông đồng ý .
Thiền sư để phú ông đứng trước cửa sổ , cách bởi tấm cửa kính , chỉ ra mặt đường bên ngoài , hỏi : " ông nhìn thấy đc những gì ? "
Phú ông nói : 1 đám người bận rộn ."
Thiền sư lại đem đến 1 tấm gương , để ông ta nhìn và hỏi: " bây giờ ông lại thấy gì ? "
Phú ông nói : " tôi thấy đc chính mình . "
Thiền sư lại hỏi : cửa sổ và gương là làm bằng gì ? "
Phú ông nói : " đều làm bằng thủy tinh cả . "
Thiền sư hỏi tiếp : " chúng khác nhau chỗ nào ? "
Phú ông trả lời : " gương thì đc tráng 1 lớp bạc , còn cửa kính thì ko . "
Thiền sư bèn nói : " đây chính là câu hõi mà ông cần tìm . thuỷ tinh đơn thuần có thể cho ta nhìn thấy mọi người , trong khi tráng 1 lớp bạc lên thuỷ tinh thì chỉ có thể thấy đc chính mình . Mắt của ông bị tiền tài che mắt , chỉ nhìn thấy mình mà ko nhìn thấy người khác . Vậy làm sao mà ông có niềm vui đc ? "

LÃNH NGỘ PHẬT TÂM
Những người hay cho mình là trọng tâm , là quan trọng , đồng thời quá xem trọng tiền tài , nhất định là người tự tư tự lợi . Loại người như vậy trong mắt chỉ có mình , chứ ko có người khác . Điều này ko chỉ đem đến niềm vui , trái lại còn làm tăng thêm vô số phiền não cho họ .

( trích trong sách Lãnh Ngộ Phật Tâm )

Sunday, August 25, 2013

Con sóng nhận thức

****************

Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình:
- Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.
Con sóng to cười đáp:
- Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.
- Tôi không là sóng thế là gì?
- Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn buồn bực gì nữa.
Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ:
- À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.


Lời bình
---------
Con người cho rằng "ngã" là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la

( Sưu Tầm )

Saturday, August 24, 2013

THỌ TRÌ NĂM GIỚI

LỜI VÀNG PHẬT DẬY TRONG TẠNG KINH NIKAYA


THỌ TRÌ NĂM GIỚI


Một thời, Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Magadha. Các nam cư sĩ làng Pàtali đi đến, đảnh lễ và bạch Thế Tôn:

Mong Thế Tôn trú ở giảng đường của con!

Thế Tôn im lặng nhận lời rồi đi đến giảng đường bảo các nam cư sĩ làng Pàtali:

Này các gia chủ, có năm điều nguy hiểm này cho người phạm giới. Thế nào là năm?

Ở đây, này các gia chủ, người phạm giới do nhân duyên phóng dật nên hao mất tài sản lớn, đây là nguy hiểm thứ nhất. Người phạm giới tiếng xấu đồn xa, đây là nguyên nhân nguy hiểm thứ hai. Người phạm giới khi đi đến hội chúng nào đều đến với tâm trạng sợ hãi, đây là nguy hiểm thứ ba. Người phạm giới khi chết bị si ám, đây là nguyên nhân nguy hiểm thứ tư. Người phạm giới khi mạng chung bị sanh vào ác thú, đọa xứ, địa ngục, đây là nguy hiểm thứ năm.

Này các gia chủ, có năm điều lợi ích cho người giữ giới. Thế nào là năm? Ở đây này các gia chủ, người giữ giới do nhân duyên không phóng dật nên được tài sản lớn, đây là lợi ích thứ nhất. Người giữ giới tiếng tốt được đồn xa, đây là lợi ích thứ hai. Người giữ giới khi đến hội chúng nào đều đến với tâm trạng không có sợ hãi, đây là lợi ích thứ ba. Người giữ giới khi chết không bị si ám, đây là lợi ích thứ tư. Người giữ giới khi mạng chung được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này, đây là lợi ích thứ năm.

(ĐTKVN, Tiểu Bộ I, Kinh Phật tự thuyết, chương 8, phẩm Pataligamiya, NXB TP.HCM, 1999, tr. 276)


LỜI BÀN:

Hàng Phật tử, sau khi quy y thì phát tâm thọ trì năm giới, phát nguyện không sát sanh, không trôm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu trong suốt cuộc đời. Thọ giới và giữ giới trong đạo Phật hoàn toàn mang ý nghĩa tự giác và tự nguyện ngõ hầu thành tựu nhân cách của người con Phật và đạt được nhiều lợi ích trong cuộc sống

Giới pháp như ngọn đèn soi sáng bóng đêm giúp người đi đường không lạc lối. Giới như hàng rào che chắn, bảo vệ cho người thọ trì vượt thoát những cám dỗ, hiểm nguy. Giữ giới chính là ý thức tự giữ gìn sự an toàn chủ động trong việc cải thiện phước báo của mình ngày một tốt đẹp hơn đồng thời chịu trách nhiệm hoàn toàn trước mọi hành động của mình mà không hề bị trừng phạt hay được ban ơn từ thần linh hoặc một đấng thiêng liêng.

Người sống vượt ra khỏi giới pháp thì ngay lập tức năm nguy hiểm sẽ chờ đoán. Nếu không dừng lại và chuyển hóa những hành vi giết chóc, trộm cướp, tà dâm, dối trá và say sưa, nghiện ngập thì hậu quả về mất mát tài sản, tai tiếng, sợ hãi, si mê và khi chết đọa địa ngục là điều không thể tránh khỏi. Ngược lại, tuân thủ và giữ gìn giới pháp đã thọ thì chắc chắn gặt hái năm điều lợi ích: giữ vững tài sản, tiếng tốt đồn xa, tự tin trước mọi người, tâm hồn trong sáng và phước báo trời người ở đời sau.

Phật dạy: Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi; Hãy tự mình nương tựa hải đảo của chính mìn; Như Lai là Bậc y Vương tùy bệnh cho thuốc; Như Lai chỉ là Bậc Thầy dẫn dường….Vậy thì, muốn lành bệnh thì phải tự uống thuốc, muốn đến được đích thì phải tự bước đi, muốn lợi ích và an vui thì người con Phật phải tự giữ giới. Hạnh phúc hay khổ đau, lợi ích hoặc nguy hiểm đều ở nơi tự tâm, đều phụ thuộc vào việc tuân thủ hay hủy phạm giới pháp. Cho nên tự ý thức, hành động theo giới pháp để được lợi ích, an vui trong đời này và đời sau là phương châm sống của người con Phật.

Friday, August 23, 2013

Những rắc rối sẽ mở ra những cách sống mới tốt đẹp hơn


Những rắc rối sẽ mở ra những cách sống mới tốt đẹp hơn

**********************
Nếu thay đổi thói quen và mẫu mực cố hữu của mình, ta sẽ nhận ra rằng những rắc rối trên đời hóa ra có thể dạy ta tăng trưởng lớn lên. Nhưng vì những rắc rối phiền nhiễu quấy động cuộc đời ta, làm ta đau khổ, nên khuynh hướng tự nhiên của ta là tránh né chúng. Ta thường tìm cách làm sao khỏi vướng vào những tình huống khó khăn, hoặc khi gặp những chướng ngại thì ta đi quành qua chúng để né tránh. Nhưng những vấn đề của chúng ta trên đời cũng giống như những đám mây: mặc dù có vẻ như đang quấy rối, làm vẩn đục bầu trời trong sáng, chúng vẫn chứa đựng hơi nước đem lại đời sống và giúp cho sự tăng trưởng. Khi biết đối mặt trực tiếp với những rắc rối xảy ra và giải quyết chúng, ta sẽ khám phá những cách sống mới. Ta dần có thêm sức mạnh và niềm tin để đối phó với những rắc rối trong tương lai. Cuộc đời trở thành một thách thức đầy ý nghĩa giúp ta tỉnh ngộ và hiểi biết lớn lao hơn. Ta thấy rằng càng học hỏi thì ta càng tăng trưởng thêm, càng gặp nhiều thử thách thì ta càng được nhiều sức mạnh và tỉnh giác. Khi sống thuận theo tiến trình thay đổi thì chỉ lối sống ấy cũng đủ là một việc đáng giá.

Vào những lúc bạn cảm thấy hết sức chán chường muốn bỏ cuộc, hoặc lúc bạn nghĩ thật quá muộn màng để làm một thay đổi gì cho cuộc đời ta, thì bạn không được dừng tại đấy. Tự khích lệ mình, bạn có thể khởi động cơ học hỏi, tăng tiến, sử dụng tiềm năng mình một cách sáng tạo. Thay vì để cho mình dính chặt vào những lề thói cũ, bạn có thể thách thức chúng, quật ngã chúng. Làm như thế là bạn đã bành trướng những khả năng mình và tăng thêm sự giàu có của kinh nghiệm nhiều hơn bạn tưởng. Thay vì dứt ngang những tham vọng của mình, ta có thể dùng cái năng lượng của những thái độ tiêu cực ấy để củng cố nó thành một sức mạnh tập trung vào mục đích mở cuộc đổi mới trong đời mình.

Khi đã thấy mình có thể thay đổi cuộc đời mình, thì chúng ta có thể nhìn về tương lai, thực sự tiến tới trước trong tương lai và tiến lên một cách nhanh chóng cũng với mức độ như ta muốn. Vì tự tin vào khả năng phát triển sức khỏe và năng lực của mình bằng những nổ lực của chính mình, ta trở thành một gương sáng cho những người xung quanh, khuyến khích họ cũng làm cuộc đổi mới đời họ. Sự nâng đỡ này, san sẻ kinh nghiệm này, là một trong những tài nguyên vĩ đại nhất của nhân loại.

Khi đã có thái độ sẵn sàng thay đổi thì ta thấy tâm trí mình là một nguồn suối đầy sáng tạo, đầy niềm vui và hạnh phúc, và cơ thể ta cũng đầy năng lực. Tâm và thân làm nên một cỗ xe tốt, mỗi thứ là một trong đôi cánh giúp ta bay lên cao, giúp ta đối mặt với những thử thách của cuộc đời. Ta sẽ thấy mình thực may mắn làm sao, khi có thể vận dụng thân tâm để đào sâu và làm giàu kinh nghiệm về công việc, về tương giao với mọi người và về cuộc đời.

Hãy tư duy về những giá trị đang phát triển: một trái tim rộng mở, một thiện chí sẳn sàng trực tiếp đối mặt với cuộc đời, sự tự tin ở mình. Ta có thể tiếp cận cuộc đời như thể chỉ là một việc khó khác nữa trong các công việc mà thôi. Nhưng khi quyết định vận dụng nhiều cơ hội để thay đổi theo chiều hướng tốt thì ta có thể làm cho đời mình trở nên lành mạnh, đầy sinh lực. Ta dần dần thực sự thưởng thức đời sống của mình, có một cảm giác thoải mái an lạc tỏa ra khắp mọi hành động của ta. Khi thành tựu được cuộc thay đổi thì ta có thể thấy rõ là mình đã thay đổi và lấy làm hãnh diện. Khi thấy sự thay đổi tốt đẹp nơi ta, thì những người khác cũng vui lây và được khuyến khích làm cuộc đổi thay trong đời họ. Nếu chúng ta biết nâng đỡ lẫn nhau để tăng tiến theo cách ấy, thì công việc sẽ hóa dễ dàng, tâm hồn ta được hoan hỉ.

(Trích "Sự thay đổi" của Tarthang Tulku Rinpoche - Thích Nữ Trí Hải dịch)

Oán thù, cố chấp làm chúng ta vào hố khổ đau

Oán thù, cố chấp làm chúng ta vào hố khổ đau

************************
Chúng ta thử suy gẫm câu chuyện sau đây: Có một đàn bò đang đi trên đường vào lò sát sinh để bị giết làm thịt. Những con bò đó vẫn báng nhau, húc nhau, chen nhau, lấn nhau, nghinh nhau, nghịch nhau. Chúng không biết rồi đây, chỉ trong phút giây, cuộc đời của chúng sẽ bị kết thúc thê thảm biết là dường nào. Chúng không biết gì cả, chỉ biết đấu tranh, giành giựt, hơn thua, cho đến giây phút cuối cùng của mạng sống.

Người đời thường nói: đồ ngu như bò! Tuy nhiên người đời có thông minh hơn chăng? Thử xét cõi đời được bao năm, mà con người vẫn sống trong cơn mê: bon chen, đấu tranh, giành giựt, chèn ép, chà đạp, chửi bới, thưa gửi, kiện tụng, đụng độ, hơn thua nhau từng lời nói, ghìm nhau từng cử chỉ, thù oán nhau từng hành động, chấp chặt từng chuyện làm ơn nhỏ nhặt, chất chứa từng chuyện thù oán lặt vặt, đến chuyện hận thù không đội trời chung. Con người thường có tâm chấp ngã, cho nên ích kỷ, chỉ muốn chính mình, gia đình mình, bà con mình, giòng họ mình, tổ chức mình, dân tộc mình, bất cứ cái gì dính tới mình, đều đứng hạng nhứt! Ngoài ra thì mặc kệ, sống chết mặc bây, tụi này sung sướng, như vậy đủ rồi! Thực là hởi ôi, cõi đời nổi trôi, vô cùng vô tận!

(Trích Cư Trần Lạc Đạo - Cư sĩ Chính Trực)

Ghi chú thêm: theo như bài viết đã nói, oán thù làm chúng ta khổ đau trầm luân từ kiếp này sang kiếp sau, vì vậy chúng ta nên tinh tấn tu tập hướng Phât, giữ tâm không tham chấp thì nhất định sẽ sớm đạt đến chỗ tròn vẹn, an lạc, hạnh phúc. Chúc tất cả an lành. A Di Đà Phật...

Thursday, August 22, 2013

NÊN CẦU SIÊU VÀ THỜ CÚNG VONG THAI NHI NHƯ THẾ NÀO?

NÊN CẦU SIÊU VÀ THỜ CÚNG VONG THAI NHI NHƯ THẾ NÀO?


VẤN:

Con là một người mẹ đầy đau khổ và xấu hổ. Thật ra con chưa bao giờ có được thiên chức làm mẹ vì con đã phá thai hai lần dù chỉ mới 19 tuổi. Tất cả đều vì hoàn cảnh, sự mê dại sai lầm của tuổi trẻ chúng con đã vượt qua giới hạn cho phép không kiểm soát được nhưng lại không thể có đủ khả năng nuôi con mình nên đã phá thai. Lần đầu phạm tội con đã quá đau khổ không bao giờ mong có lần thứ hai thế mà lại tiếp tục xảy ra. Cứ mỗi lần nghĩ tới con thấy mình sao lại tồi tệ đến vậy, con đã mang tội giết người vì đã giết con của mình, đọc một số bài viết về vấn đề nạo phá thai và nhân quả, con khóc rất nhiều vì hối hận. Một người bạn đã chỉ con đến một miếu thờ nhờ một người chuyên lên đồng bóng và xem tử vi cúng cầu siêu cho con của con. Cô ấy đưa giá 1 triệu một trường hợp thì sẽ chắc chắn siêu thoát. Cô ấy cũng không đặt pháp danh cho con của con vì bảo là không cần thiết. Vậy xin Sư cho con biết là con làm như vậy có đúng không? Con nên làm sao để cho con của con được siêu thoát?

ĐÁP:

Bạn lập gia đình sớm quá, theo người Á đông nhất là Việt Nam ngày nay dù nam hay nữ đối với việc lập gia đình “sớm” đã lỗi thời. Tuổi trẻ cần có sự ăn học, tuổi bạn còn sống trong tầm tay của cha me quản lý, không cần thiết phải lập gia đình sớm mà phải lo học hành, học nghề, cho đến tuổi 30 đã vững chảy, bấy giờ lập gia đình không muộn.

Bạn đã quy y Tam bảo thọ trì ngũ giới cấm chưa? nếu đã quy y thì bạn phải biết giới thứ nhất là không sát sanh – thư hai không trộm đạo – thứ ba không tà dâm – thứ tư không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa sã – thứ năm không uống rượu tham lam sân giận si mê.

Nếu chưa quy y Phật thì nên đến chùa tìm Sư xin quy y Tam bảo, thọ giới cấm, giới luật của Phật sẽ làm cho đời sống của Bạn hạnh phúc. Giới sẽ hộ trì cho Bạn không làm những việc ác, thì việc lành luôn đến với Bạn.

Bạn không nên làm việc phá thai, vì phá thai đồng với tội giết người, dù thai nhi đó bao nhiêu tháng cũng thế thôi. Sát đã là gây thêm nghiệp báo rồi, lại thêm mất tính đạo đức, tính người vì đã giết “con”. Mà đã mang vào nghiệp sát thì phải bị quả báo chúng sanh “sát” lại làm cho chết đi “nhân tâm con người”, nên cảm thấy có linh hồn đứa con nhập vào trong mình, nói chuyện ọ ẹ như trẻ con, đấy chính là quả báo nhãn tiền! phạm giới “sát” và giết chúng sanh bị chúng sanh giết lại.

Nếu là Phật tử, đồng với cuộc sống hôm nay dù giàu hay nghèo cũng phải vất vả lao động lo cho kinh tế gia đình thì các bạn có thể giữ giới thứ ba là không tà dâm, tức là bạn chỉ sống một vợ một chồng, chung thỉ để giữ hạnh phúc vợ chồng. Tuy nhiên giới tà dâm vẫn còn thêm một ý nữa là hạn chế sinh hoat gia đình. Theo Khổng phu tử thì “bảy ngày sinh hoạt gia đình một lần thì sanh quý tử”, chẳng lẽ Phật tử chúng ta không làm được việc của thế gian nầy hay sao? Như thế làm gì có việc nạo thai, phá thai.

Sở dĩ những người trẻ tuổi chưa lập gia đình mà có thai, là vì người đó quên mất bản chất người Á đông-Việt Nam, người đó dù sống ở bất cứ phương trời nào nhưng chỉ cần giữ được phần đạo đức tối thiểu của Việt Nam, tự ái bản thân của chính mình, có nhân cách và lòng tự trọng thì không bao giờ bị vi phạm nhân thân trước khi lập gia đình.

Tóm lại, nếu bạn chưa quy y Tam bảo thọ trì ngũ giới cấm của Phật thì nên quy y; các bạn quy y rồi nên giữ nghiêm túc các giới đã thọ. Đã hạnh phúc lại còn hạnh phúc hơn nữa!

Làm lễ cúng thai nhi như thế nào?

Tại Việt Nam, nơi nào thì Tôi không rõ, nhưng ở Quan Âm tu viện, Biên Hòa, Đồng Nai; Phật tử dù nam hay nữ đến sẽ được hướng dẫn như sau: không thờ thai nhi, chỉ cần Bạn đặt tên cho thai nhi con Bạn; Bạn cảm niệm là nam thì con Bạn là nam, Bạn cảm niệm con Bạn là nữ thì nó sẽ là nữ, Nhà Sư nương theo đó mà đặt pháp danh cho thai nhi, đến chánh điện lạy Phật cầu nguyện họ tên pháp danh của thai nhi vãng sanh theo Phật là đủ rồi, không phải cúng kính mâm quả, đặt tiền vàng chi cả. Tuy nhiên khi về nhà Bạn, mỗi đêm niệm 21 biến thần chú vãng sanh cho đến khi nào không còn lo âu phiền muộn.

Thần chú vãng sanh như sau:

Nam ô A Di đa bà da

Đa tha dà đa dạ

Đa diệt dạ tha

A Di rị đô bà tỳ

A di rị đa tất đam bà tỳ

A di rị đa tỳ ca lan đế

A di rị đa tỳ ca lan đa

Da di ni dà da na

Chỉ đa ca lệ ta bà ha (đọc 21 lần)

Vãng Sanh Thần Chú trên , gồm 59 chữ như sau:

Nam mô A Di Đa bà dạ, nghĩa là: Con xin quy kính về với Đức Phật A Di Đà.

Đa tha dà đa dạ, nghĩa là: Như Lai

Đa điệt dạ tha là: tức thuyết chú viết,

Liền đọc bài chú dưới đây:

1 . A Di rị đô bà tì, A di rị đa

2 . Tất đam bà tì, A di rị đa

3 . Tì ca lan đế, A di rị đa

4 . Tì ca lan đa, Dà di nị

5 .Dà dà na, Chỉ đa ca lệ

Ta bà ba

5 câu trên đều là mật ngữ, đại ý có nghĩa là: nhổ bỏ tận gốc các nghiệp chướng trong ba đời.

Ta bà ha: tiếng Phạn là Swâha. Thường là các bài thần chú đều có ba chữ chót là Ta bà ha, có nghĩa là: Thành tựu, kiết tường, viên mãn, tiêu tai tăng phước, viên tịch, vô trụ, viên mãn bồ đề tâm, xin Phật chứng minh, kính Phật chứng minh.

Các vị ấy không còn bị sợ “tội” và bị thai nhi “nhập xuất” nữa!

Nguồn: linhsonphatgiao

Wednesday, August 21, 2013

Y GIÁO TU HÀNH.

Y GIÁO TU HÀNH.

**********************
Ở ngay trong cuộc sống làm sao phát hiện lỗi lầm của chính mình, làm thế nào đem lỗi lầm của chính mình thay đổi tu sửa lại đó là “Pháp xám hối”. Xám hối cùng tu hành là không thể phân ra, chân thật chỉ là một sự việc. Cho nên có thể y giáo tu hành chính là chân thật cúng dường chư Phật như lai, đó là đệ tử tốt của Phật thật cúng dường.

Phật đâu cần những hương hoa trái cây của bạn bày cúng ở ngay trước mặt Ngài. Không cần nói Phật không hoan hỉ, tôi nhìn thấy những thứ này cũng không ưa, người ta mời tôi ăn cơm trên bàn bày rất nhiều thức ăn tôi xem thấy đều không ưa. Huống hồ Phật Bồ Tát, cảnh giới của Phật Bồ Tát cao hơn tôi rất nhiều, bày ở trước mặt tất cả đều không muốn ăn, tất cả đều không cần đến, làm gì có được sự thanh đạm tốt hơn chứ. Phật Bồ Tát hy vọng chúng ta cái gì? Hy vọng chúng ta mỗi một chúng sanh mau chóng thành Phật. Chúng ta thật lòng làm như vậy, vậy thì Phật mới chân thật sanh tâm hoan hỉ. Cho nên mới gọi là thật cúng dường, cúng dường chư Phật. Cũng cúng dường Bồ Tát, cũng cúng dường lão Sư của chúng ta, lão Sư hy vọng chúng ta là học trò tốt, lão Sư mới vinh hiển; chúng ta có thành tựu, trên mặt lão Sư liền có ánh sáng; chúng ta làm càn làm quấy, đang tận tạo nghiệp chướng, Vinh hiển của lão Sư hoàn toàn bị mất hết.

Cho nên chân thật tu hành là thật cúng dường lão Sư, cũng là chân thật cúng dường cha mẹ, tổ tiên của chính mình; Các vị nghĩ xem có đúng không? Bạn có thể y giáo tu hành, đặc biệt là y theo Kinh Vô Lượng Thọ mà tu hành vậy còn gì bằng. Y theo Kinh Vô Lượng Thọ mà tu hành chính là mô phỏng A Di Đà Phật, tuy là học được mà không thể giống như A Di Đà Phật cũng có được chút giống, cũng có mấy phần giống nhau; Người ta vừa nhìn bạn: “Ô! A Di Đà Phật đến.” Vậy thì cha mẹ của bạn liền biến thành cha mẹ của Phật Bồ Tát, tổ tiên của bạn liền biến thành tổ tiên của Phật Bồ Tát. Ngay trong nhà Phật thường nói: “Một người thành Phật cửu huyền thăng.” Chính là cái đạo lý này. Đó là bạn chân thật cúng dường tổ tiên cha mẹ của bạn, cũng là chân thật cúng dường chân như bổn tánh của chính mình. Sau khi quay đầu nhìn lại là chân thật cúng dường tận hư không khắp Pháp giới tất cả chúng sanh.

Bạn xem thấy chỉ một y giáo tu hành, phạm vi của cúng dường rộng lớn đến như vậy, tinh thâm đến như vậy. Bạn không thấu hiểu thì bạn làm sao mà tu? Sau khi bạn chân thật thông hiểu, bạn mới nỗ lực tu hành, phải đem Kinh này làm đến được 100%. Người khác làm hay không làm không Liên quan với ta, tu hành ở chính mình, chính mình phải làm cho được. Phải làm ra một tấm gương tốt cho người xem.

HT. Tịnh Không Pháp Sư.

Nam Mô A Di Đà Phật.

CHƯỚNG NGẠI LỚN NHẤT KHI HỌC TẬP

CHƯỚNG NGẠI LỚN NHẤT KHI HỌC TẬP

________________________________
Hời hợt, bộp chộp là chướng ngại lớn nhất trong sự học tập của chúng ta. Nếu không diệt trừ hời hợt, bộp chộp, sẽ vĩnh viễn không thể thấu hiểu. Cái mà quý vị có thể học được chỉ là ngôn từ! Ngôn từ là bề ngoài, là văn tự, danh tướng, quý vị học những thứ này, không có cách nào nhận biết đạo lý chân thật. Tâm quý vị càng thanh tịnh, càng hiểu sâu; đến khi tâm bình đẳng hiển hiện, gần như là chưa khai ngộ thì cũng mấp mé khai ngộ! Thanh tịnh là Kiến Tư phiền não mỏng nhẹ. Đoạn Kiến Tư phiền não, tâm thanh tịnh thật sự hiện tiền; Trần Sa phiền não đoạn rồi, tâm bình đẳng hiện tiền. Tâm chúng ta bất bình đẳng thì làm gì được? Vì sao chẳng bình đẳng? Có Ngã! Có Ngã sẽ chẳng bình đẳng; nói chung, [sẽ nghĩ] ta giỏi hơn người khác một chút, đó là ngạo mạn. Chư vị phải biết: Hễ có Ngã, bèn có ngạo mạn, quý vị chẳng thừa nhận cũng không được! Đức Phật nói rất hay, vì sao? Quý vị có Ngã là có Mạt Na Thức, bốn đại phiền não thường phụ thuộc Mạt Na Thức. Bắt đầu có từ khi nào? Trong pháp Đại Thừa, có một câu mà hết thảy mọi người đều biết: "Phụ mẫu vị sanh tiền bản lai diện mục" (diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra). Đó chính là Ngã, chẳng phải là được cha mẹ sanh ra rồi mới có Ngã. Trước khi được cha mẹ sanh ra đã có Ngã. Người bình thường chúng ta gọi Ngã là "linh hồn". Nói theo Phật pháp, không gọi là linh hồn, mà gọi là "linh tánh". Kẻ ấy có Ngã Chấp hay không? Có! Có Ngã Chấp thì gọi là "linh hồn", không có Ngã Chấp sẽ gọi là "linh tánh". Vì sao? Không gian hoạt động của kẻ ấy không ra khỏi lục đạo luân hồi, kẻ ấy chuyển vần trong lục đạo, không thoát ra được. Vì sao? Mê rồi! Nếu kẻ ấy giác ngộ, sẽ vượt thoát lục đạo; chẳng gọi là "linh hồn" nữa, mà gọi là "linh tánh", hoạt động trong không gian lớn hơn, không gian hoạt động của kẻ ấy là mười pháp giới. Vì sao kẻ ấy vẫn chưa vượt thoát mười pháp giới? Còn có khởi tâm động niệm, do chưa phá vô minh. Sau khi phá vô minh, danh từ "linh tánh" cũng chẳng còn, mà gọi là "tự tánh", đã trở về nguồn, tức là trở về tự tánh. Khi ấy gọi là gì? Gọi là Phật, chân Phật, chẳng phải giả Phật. Một thứ mà có tới ba danh từ (linh hồn, linh tánh, tự tánh), một mà ba, ba mà một!
Như vậy thì chúng ta chỉ cần một niệm bị mê, hễ mê thì tự tánh của chúng ta biến thành A Lại Da Thức. Trong ba tế tướng của A Lại Da Thức, Chuyển Tướng chính là Mạt Na Thức. Cái đầu tiên trong Mạt Na Thức là Ngã Kiến. Ngã Kiến là chấp trước có Ngã. Lấy gì làm Ngã? Chấp trước một phần của A Lại Da Thức, nói theo kiểu bây giờ sẽ là "một phần năng lượng", mọi người dễ hiểu hơn. Nói theo danh từ hiện tại là một phần vật chất, có lẽ chúng ta không nói "năng lượng", mà nói rõ ràng hơn một chút là "một phần thông tin". Mạt Na là thông tin [5], A Lại Da là năng lượng, tướng cảnh giới là vật chất. Theo khoa học hiện đại, trong vũ trụ chỉ có ba thứ là năng lượng, vật chất, và thông tin. Ba tế tướng của A Lại Da (chuyển tướng, vô minh nghiệp tướng và cảnh giới tướng) có cùng một ý nghĩa [với năng lượng, vật chất và thông tin trong cách diễn giải của khoa học], nhưng họ (các khoa học gia) giảng không rõ ràng lắm. Vật chất do đâu mà có? Thông tin do đâu mà có? Năng lượng do đâu mà có? Họ chẳng nói được! Trong Phật pháp nói đến Nhất Thể, đó chính là Tự Tánh...

SỰ OÁN HẬN CỦA VONG HỒN THAI NHI

SỰ OÁN HẬN CỦA VONG HỒN THAI NHI


[Lời người đăng (XIN ĐỌC TRƯỚC KHI XEM): Nam Mô A Di Đà Phật. Bài này trích từ quyển "ÂM LUẬT VÔ TÌNH". Quyển sách "ÂM LUẬT VÔ TÌNH" nói về những cảnh trừng phạt tại địa ngục do bà Thượng Quan Ngọc Hoa nương nhờ Phật lực nhiều lần đi xuống Địa Ngục xem mà viết lại. Những ai không tin tưởng tôi tha thiết xin quý vị cũng đừng buông lời phỉ báng! Tận đáy lòng mình tôi thành tâm mong cầu quý vị đừng buông lời phỉ báng, chê cười, bởi vì đây là vấn đề Nhân Quả rất thâm trọng, hiểu biết bình thường của chúng ta không biết hết được. Quý vị không thích có thể không xem, nhưng xin đừng phỉ báng, coi như đó là ân huệ quý vị dành cho tôi cũng được. Thành tâm mong cầu quý vị hoan hỉ! Nam Mô A Di Đà Phật]

---

Tôi nghe thấy có hồn trẻ gái đang kêu lớn: “Tôi hận các ngươi, hận chết các ngươi, vĩnh viễn cũng không tha cho các ngươi, các ngươi đời đời kiếp kiếp cũng không được chết tốt, vĩnh viễn cũng không tha cho các ngươi, ta nhất định sẽ quay lại tìm các ngươi báo thù.” Nó một mực kêu lớn trong đau khổ. Oa! Một đứa trẻ nhỏ như vậy mà có tâm oán hận thật lớn. Đứa hồn gái này trông có vẻ lớn hơn những hồn trẻ khác, phán quan nói hồn gái này chỉ mới 6 tháng; sau khi cha mẹ biết là con gái, lần thứ hai bị phá thai, hai lần đều là 6 tháng bị phá thai, do đó hồn gái thượng cáo Diêm Vương, Diêm Vương phê chuẩn nó tiếp tục nhập thai đòi nợ.

Qua đó câu thông với đứa trẻ này xem sao, tôi niệm một câu A Di Đà Phật cho nó, hỏi nó tại sao thống hận cha mẹ như vậy? Hay là thôi đi đừng tìm bọn họ nữa, dù sao bọn họ cũng không muốn có con gái, ngươi đầu thai rồi bọn họ cũng không đối xử tốt ngươi đâu, sao mà khổ thế?

Đứa trẻ này lại kêu khóc oa oa. Nó nói không được, bất luận đi đến chân trời góc bể, cũng phải trả thù, nhất định không buông tha bọn họ, nó nói trong tức giận và kích động rằng bọn chúng đã giết hại nó lần thứ hai rồi; khi nạo thai lần thứ hai, bác sĩ có nói làm như vậy sẽ rất nguy hiểm, nhưng cha mẹ nó nói quan trọng nhất là giữ cho người lớn an toàn còn đứa nhỏ thì không cần, do đó sẽ sử dụng phương pháp xử lí có lợi cho người lớn.

Đứa trẻ gái khóc mà nói tiếp, lúc đó tay chân nó dùng hết sức đá trong bụng mẹ, hy vọng có thể sớm ra ngoài, nhưng bác sĩ đã dùng tay ấn vào đầu nó chích một liều thuốc, sau đó nó đột nhiên cảm thấy toàn thân tê đau không còn sức nữa; rồi bác sĩ dùng kéo cắt đi tay phải hai miếng, dùng kiềm gắp ra, lại cắt đi chân nó 4 miếng, rồi dùng máy hút ra, lúc đó nó cảm thấy lạnh lẽo đến cực đau và nhức xương, thân mình cũng như vậy.

Đứa trẻ gái vừa khóc vừa nói: “Phần đầu, cái tai và con mắt bị cắt đi từng miếng từng miếng, đặc biệt là cắt đầu rất đau, phần đầu bác sĩ cắt rất nhiều lần, lại dùng cái móc hình dao nhọn móc tôi ra, lại dùng kiềm gắp tôi ra v.v... Mỗi khi bác sĩ cắt tôi một miếng thì thân tôi đau đớn vô cùng, cả người không sức phản kháng, máu chảy liên tục không ngừng, loại đau khổ này tôi vĩnh viễn vĩnh viễn cũng không quên đi được. Đặc biệt là người bác sĩ phá thai lần này kinh nghiệm lại không được phong phú cho lắm, bà ta động tác chậm hơn người bác sĩ lần đầu, mà còn làm lỡ tay; vốn là có thể cắt ít đi vài miếng, nhân vì bác sĩ lỡ tay làm không tốt nên tạo thêm rất nhiều đau khổ, ví như: cây quậy, máy hút, móc câu v.v... đều dùng nhiều hơn lần trước, tất cả những đau khổ này đều do bọn chúng không cần tôi nữa mà tạo ra. Tôi không gây phiền phức cho bác sĩ, vì bác sĩ có đề nghị sinh tôi ra nhưng bọn chúng không nghe, là bọn nó không cho tôi nhìn thấy ánh sáng mặt trời, là lỗi của bọn nó, một lần lại một lần muốn tôi chết, tôi vĩnh viễn oán hận cả hai bọn nó, tôi muốn chúng nó không được chết tốt, vĩnh viễn không tha cho chúng nó.” Rồi lại một lần khóc la trong đau khổ nữa, ôi! Thật đúng là! Thật là tâm oán hận rất nặng nề vậy, xem ra đôi cha mẹ tại dương gian này phải tích cực sám hối vậy, thật ra sinh nam hay nữ có gì khác nhau đâu!

Phán quan nói: “Hồn trẻ này đã được Diêm Vương nhiều lần phê chuẩn đầu sanh cùng một nhà cha mẹ đòi nợ, lần này hồn trẻ này có thể cầm lệnh bài trú trong tử cung của mẹ. Đợi khi nó thành hình người rồi thì lệnh bài này sẽ ở bộ phận sinh dục của nó, bác sĩ sẽ ngộ nhận nó là nam. Do đó đứa trẻ gái này sẽ được cha mẹ song thân yêu thương trong thời kỳ mang thai, mong chờ nó ra đời; tuy nhiên cuối cùng bọn họ sẽ thất vọng vì sinh ra con gái, đó là phán lệnh của Diêm Vương. Bọn họ không biết an phận giữ mình, phá hoại pháp kỷ âm luật, phạm tội giết người. Đôi cha mẹ này vốn có phước báo khá tốt, nhưng vì có hai lần phá thai, hành vi sát sinh này đã toàn bộ tiêu giảm gần hết phước báo và thọ mạng, sau này lại còn phải chịu đựng sự bất hiếu của trẻ này. Thật ra cũng không phải Diêm Vương phán lệnh cho người cha mẹ này chịu khổ, chỉ có điều tự thân hai người này không tuân thủ định luật vũ trụ là không được giết người; nếu như lúc đầu mang thai bọn họ cho ra đời đứa con nhỏ thì không bị tiêu trừ gần hết phước báo và thọ mạng. Nhân như thế nào, quả như thế đó; bất luận là giết hại chúng sanh nào, tương lai cũng sẽ bị nó giết lại, đoản mệnh, nhiều bệnh là khó tránh. Bất luận thời đại khoa học phát triển mau chóng như thế nào, ba định luật âm đức căn bản của âm luật - cứu mạng người, thành toàn quả phụ thủ trinh tiết, chí thiện không để người biết, 3 hạng mục này vĩnh viễn không thay đổi. Tiêu chuẩn thiên địa nhân luân cũng vĩnh viễn không thay đổi, mỗi một sinh mệnh đều có quyền lợi sinh tồn. Tại địa ngục mỗi ngày đều có quá nhiều hài nhi nhân vì phụ mẫu dương gian phá thai nên đến đây trình diện, âm luật sẽ nghiêm trị loại chúng sanh sát nhân này, cho dù khuyên người phá thai cũng sẽ bị giảm phước thọ, nói chi đến tự mình phá thai. Tương phản khuyên người không phá thai thì được tăng phước thọ, mỗi người trong sổ sanh tử tại âm phủ sẽ ghi một đại thiện công đức. Vì làm như thế là lợi mình lợi người.”

Phán quan tiếp tục chỉ dạy A Ngọc nói: “Như nay chúng sanh dương gian đã nghiêm trọng khuyết hãm quan niệm nhân quả, cho rằng đứa trẻ chưa ra đời thì cái gì cũng không biết; nhưng thật ra, sau khi một sinh mệnh thọ thai thì giống y như một con người; duy chỉ có sinh mệnh chúng rất mỏng manh, nhưng chúng có trí nhớ, cũng có thể cảm giác đau khổ.

Đặc biệt là khi hồn trẻ đã thành hình người, bọn chúng có thể cảm giác đau khổ mạnh hơn một tầng so với khi thọ thai 1 tháng, như thế mà suy ra. A Ngọc con nghe thử sự tố cáo của hồn trẻ tại “Thành Thác Oan Khóc” thì sẽ rõ. Bệnh phụ khoa, đau lưng, đau đầu, các loại tật bệnh khó lành trên cơ thể những bà mẹ phá thai tại dương gian, đa số đều liên quan đến những hồn trẻ này.”

Xem thử “Thành Thác Oan Khóc”, đúng là thật sự rất lớn, năng lực của tôi thật không nhìn thấy được biên giới; trong đó tiếng khóc than liên tục không ngớt, nghe muốn điếc tai, đúng là tội nghiệp vô cùng vậy!

Trước khi về đi thăm lại đứa trẻ lúc nãy. Tôi nói: “A Di Đà Phật! Em gái nhỏ à, đừng khóc nữa. Nhớ sau khi đầu thai phải hiếu thảo với cha mẹ nha! Rốt cùng mẹ con mang thai 10 tháng cũng khổ lắm, vả lại oan oan tương báo lúc nào mới dừng; nếu như Diêm Vương đã cho lệnh bài, thì lần này sẽ không bị nạo phá nữa đâu.” Đứa trẻ gái tức giận trả lời không được, nói nhất định không tha cho chúng đâu.

Tôi nói: “Như vậy nha! Nếu như không có lệnh bài của Diêm Vương thì không biết bao giờ con mới đầu thai được, con nên cám ơn Diêm Vương ấy!”, nó nghe tôi nói như vậy thì bắt đầu không khóc, giống như là chấp nhận cảm ân Diêm Vương rồi. Tôi nói: “Con nên cảm ân ân đức của Diêm Vương!”, nó trả lời: “Phải cảm ân Diêm Vương nhưng vẫn không tha cho cha mẹ.”

“Được rồi! Em gái nhỏ, A Ngọc cần phải đi thôi, A Di Đà Phật! Hy vọng con về sau không phát sinh những chuyện không vui nữa, cố gắng bảo trọng nha.”

(Trích "ÂM LUẬT VÔ TÌNH", Thượng Quan Ngọc Hoa trước tác)

Mong người đọc xong có thêm hiểu biết, chấm dứt việc tà dâm và phá thai.

Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật