Sunday, July 21, 2013

THAY ĐỔI SỐ MỆNH

THAY ĐỔI SỐ MỆNH


Trong Phật giáo không có khái niệm số mệnh, tuy nhiên, kết quả của nghiệp (ý niệm, hành động, tập quán, thói quen) đã tạo nên con người và hoàn cảnh sống, kết quả của nghiệp có tính quyết định hình thành nên cái mà con người ngộ nhận là số mệnh, định số hay định mệnh. Số mệnh là cái mà con người cho là thiên định (trời định), không một ai có thể thay đổi trừ phi ý trời thay đổi khi con người làm điều gì đó cảm động lòng trời. Nhưng nghiệp thì khác, nghiệp do con người tạo ra, và phản ứng của nghiệp (nghiệp quả, hậu quả của nghiệp) trở lại tác động, chi phối con người. Tính chất của nghiệp là duyên sinh, bất định, cho nên có thể thay đổi.

Con người có thể thay đổi số mệnh (nói đúng hơn là thay đổi nghiệp, là chuyển nghiệp nếu như nghiệp quả chưa hình thành, nhân chưa trổ quả) bằng cách thay đổi nhận thức, tư duy, hành động, tập quán, thói quen (chuyển đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý).

Thời đức Phật, Angulimàla là một tên cướp khét tiếng đã giết 999 người và lấy ngón tay của những nạn nhân xâu lại thành chuỗi rồi đeo ở cổ để thị uy. Nhưng từ khi gặp đức Phật, được đức Phật giáo hóa, Angulimàla đã tỉnh ngộ và quyết tâm hồi đầu hướng thiện. Sau khi quy y Phật và xin xuất gia, Angulimàla nỗ lực tu tập để chuyển hóa tự thân. Sau một thời gian tinh tấn tu tập chuyển hóa, dù trải qua nhiều khó khăn thử thách do phải nhận lãnh quả báo của những ác nghiệp mà mình đã tạo, cuối cùng Angulimàla cũng chứng đắc thánh quả A la hán, quả vị giải thoát cao nhất của hàng Thinh văn.

Trong quá trình tu tập, suốt một thời gian dài tinh thần Angulimàla không được yên ổn, ông thường xuyên bị ám ảnh bởi những cảnh tượng giết chóc rùng rợn và những âm thanh kêu la thảm thiết của các nạn nhân trước đây ông giết hại. Nhiều lần trên đường đi khất thực, Angulimàla bị thân nhân của những người đã bị ông sát hại ném đá, dùng gậy gộc đánh đập một cách dã man để trả thù, khiến cho ông bị thương tích máu me đầy mình. Tuy nhiên Angulimàla vẫn kiên nhẫn chịu đựng, cố gắng điều phục nỗi sân hận trong lòng. Để hỗ trợ cho sự tu tập của Angulimàla, đức Phật đã giải thích cho ông hiểu rằng những điều không hay xảy đến với ông đều là kết quả của những ác nghiệp mà ông đã tạo. Hiểu được điều đó, Angulimàla càng cố công tu tập và nhẫn chịu mọi sự oán nghịch. Với tâm xả ly và sự tinh tấn hành trì giáo pháp, dần dần Angulimàla đã vượt qua được những bất an mà trước đây ông thường xuyên đối mặt.

Một hôm nọ trên đường đi khất thực, Angulimàla gặp một người phụ nữ trở dạ nhưng khó sinh đang đau đớn kêu gào. Angulimàla không biết làm gì để giúp người phụ nữ ấy, ông trở về cầu xin đức Phật chỉ cách giúp người kia. Đức Phật dạy Angulimàla đến nói với người phụ nữ khó sinh kia như sau: “Này chị, từ khi tôi được sinh vào hàng thánh chúng, tôi chưa hề giết hại bất cứ một loài hữu tình nào. Cầu mong lời nói chân thật này giúp cho chị được khỏi đau đớn, con của chị được sinh ra an toàn”. Angulimàla trở lại nơi gặp người phụ nữ khó sinh, ông ngồi cách người phụ nữ kia một bức màn rồi đọc lại lời Phật dạy, người phụ nữ bỗng hết đau tức thì và hạ sinh đứa con dễ dàng.

Sự dừng lại, không tiếp tục tạo tác những nghiệp bất thiện, nỗ lực tinh tấn thực hành điều thiện, tu tập chuyển hóa nội tâm đã giúp Angulimàla thay đổi từ một con người tội lỗi trở thành bậc hiền nhân thánh thiện, và sau cùng là thành tựu quả vị giải thoát, dự vào hàng thánh chúng (Xem Lịch sử đức Phật Thích Ca, phần đức Phật và Angulimàla, HT.Thích Minh Châu biên soạn, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, cơ sở II ấn hành, 1988).

Trong bài tựa sách Đồng Mông Chỉ Quán, Đại sư Trí Khải có thuật lại một câu chuyện chuyển nghiệp, làm thay đổi nghiệp quả khi nghiệp quả sắp hình thành như sau: Có một vị Tăng trụ trì ở một chùa nọ đã chứng quả A la hán, ông biết trong vòng bảy ngày nữa đệ tử mình sẽ chết, bèn bảo người đệ tử ấy về thăm nhà. Trên đường về nhà, người đệ tử thấy một ổ kiến trên bờ đê có nguy cơ bị dòng nước xoáy cuốn trôi. Người đệ tử động lòng thương bèn đắp lại chỗ đê sắp bị vỡ để cứu ổ kiến. Sau đó người đệ tử tiếp tục lên đường về thăm nhà. Qua bảy ngày người đệ tử vẫn bình an trở lại chùa trước sự ngạc nhiên của vị thầy. Thấy người đệ tử chẳng những không chết mà khí sắc còn tốt hơn trước, vị thầy lấy làm lạ bèn hỏi người đệ tử đã làm những việc gì trong thời gian về thăm nhà. Người đệ tử thuật lại cho thầy nghe về việc mình cứu ổ kiến trên đường đi. Nghe xong vị thầy cho người đệ tử biết, chính nhờ phát tâm từ bi cứu mạng lũ kiến mà chuyển được nghiệp, thay vì phải chết trong vòng bảy ngày nhưng lại không chết mà còn tiếp tục sống thêm nhiều năm nữa.

Người đệ tử của vị Tăng A la hán đã cứu vô số sinh mạng, tạo thiện nghiệp (phước nghiệp) quá lớn có năng lực làm thay đổi nghiệp quả sắp hình thành cướp đi mạng sống của mình. Nhờ phước nghiệp nên chẳng những không chết mà còn được tăng thọ mạng. Trên là một số trường hợp điển hình về sự thay đổi số mệnh, hay nói cho đúng hơn là sự chuyển nghiệp, làm thay đổi nghiệp quả.

II. THÂN THỌ NGHIỆP, TÂM THỌ NGHIỆP, THÂN VÀ TÂM ĐỀU THỌ NGHIỆP.

II. THÂN THỌ NGHIỆP, TÂM THỌ NGHIỆP, THÂN VÀ TÂM ĐỀU THỌ NGHIỆP.

Khi nghiệp tác động, biểu hiện ở thân, đó là thân thọ nghiệp. Khi nghiệp tác động, biểu hiện ở tâm, đó là tâm thọ nghiệp. Khi thân và tâm đều chịu sự tác động của nghiệp, đó là thân và tâm thọ nghiệp. Tuy nhiên giữa thân và tâm có mối quan hệ không thể tách rời nên khó có thể phân biệt một cách rạch ròi đâu là thân thọ nghiệp và đâu là tâm thọ nghiệp, bởi vì khi thân đau thì tâm cũng khổ, mà khi tâm khổ thì thân cũng mệt mỏi, khó chịu, thậm chí phát sinh các bệnh lý. Những nỗi khổ về thân xác và những nỗi khổ về tinh thần có mối quan hệ, ảnh hưởng qua lại với nhau.

Ví dụ như trường hợp tướng cướp Angulimàla phải thọ lãnh nghiệp quả bị người thân của những nạn nhân của ông chửi mắng, đánh đập (thân thọ nghiệp), và tâm ông cũng thường xuyên không an ổn, luôn bị ám ảnh bởi những việc ác ông đã gây ra (tâm bất an là hiện tượng tâm thọ nghiệp).

Do nghiệp nhân như thế nào, tốt hay xấu, thiện hay ác mà đưa đến nghiệp quả hạnh phúc hay khổ đau, điều kiện, hoàn cảnh bản thân, điều kiện, hoàn cảnh đời sống tốt hay xấu. Nếu nghiệp nhân xấu, bất thiện thì nghiệp quả xấu đưa đến sẽ tác động, chi phối làm cho con người phải chịu những cái khổ nơi thân và tâm, khổ vì hoàn cảnh đời sống, tựu trung là tám cái khổ lớn (Bát khổ): Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, khổ vì mong cầu mà không được, khổ vì oán ghét gặp nhau, khổ vì yêu thương mà phải chia lìa (sinh ly, tử biệt), khổ vì thân ngũ uẩn giả hợp luôn thay đổi, biến hoại. Tám cái khổ này, con người thọ lãnh nhiều hay ít, thọ cái khổ nào nhiều, thọ cái khổ nào ít đều tùy thuộc vào nghiệp đã tạo.

II. THÂN THỌ NGHIỆP MÀ TÂM KHÔNG THỌ NGHIỆP

II. THÂN THỌ NGHIỆP MÀ TÂM KHÔNG THỌ NGHIỆP

Do nghiệp quá khứ chiêu cảm quả báo nên nghiệp quả tác động đến người tạo nghiệp. Nhưng nếu người ấy có tu tập, có sự rèn luyện tâm, có nỗ lực chuyển hóa thì tuy thân có lãnh chịu nghiệp quả nhưng tâm không thọ khổ hoặc ít thọ khổ (tùy thuộc vào mức độ tu tập). Ví dụ như trường hợp Angulimàla nhờ hiểu được những chướng duyên trong tu tập (bị người chửi mắng, đánh đập, làm khó dễ; luôn bị ám ảnh bởi những hành vi bất thiện trước đó) đều là nghiệp quả mà mình phải thọ lãnh do quá khứ đã tạo nghiệp nhân, và nhờ nỗ lực tinh tấn hành trì giáo pháp, tu tập thiền định mà ông bớt khổ, cho đến khi tâm an định và trí tuệ soi sáng thì tâm ông hoàn toàn thoát khỏi mọi phiền não khổ đau, chứng thành đạo quả, lúc này dù phải trải qua cảnh máu đổ thịt rơi thì tâm ông cũng không dao động, chỉ có thân thọ nghiệp (dư báo-nghiệp báo còn sót lại) mà tâm vẫn không thọ nghiệp. Trong kinh Tương Ưng Bộ IV đức Phật đã khẳng định, nghiệp quả của hành động ác có thể được khắc phục nhờ ăn năn hối cải và tu tập phát triển công đức giới hạnh.

Đối với những ai chứng được vô ngã pháp, không còn chấp thủ, thấy rõ “nghiệp chướng bổn lai không” thì tâm không còn chịu sự tác động, chi phối của nghiệp quả, tuy thân có thọ nghiệp (do còn mang thân tứ đại, nên phải chịu quả báo của nghiệp quá khứ) nhưng tâm không khổ não, tuy thân thọ nghiệp nhưng tâm không thọ nghiệp, ví dụ như trường hợp đức Phật, Tổ Sư Tử, Bồ tát An Thế Cao trả nghiệp.

Tổ Sư Tử khi du hóa đến nước Kế Tân, vua nước này hỏi ngài rằng: “Ngài thấy ngũ uẩn đều không chăng?” Tổ đáp: “Tôi thấy ngũ uẩn đều không”. Vua bảo: “Ngài cho tôi cái đầu được chăng?” Tổ nói: “Ngũ uẩn đã là không, sá gì cái đầu”. Vua liền đưa đao chém đầu Tổ.

Bồ tát An Thế Cao sau 23 năm dịch kinh, hoằng pháp ở Lạc Dương (Trung Quốc), với Túc mạng trí ngài biết mình còn túc nghiệp chưa trả hết, cho nên nói với mọi người rằng: “Ta nay vẫn còn chút dư báo, nên phải đi Cối Kê để trả cho xong”. Ngài bèn đến Cối Kê. Khi đi vào chợ, gặp lúc có loạn, người ta đánh lầm trúng đầu ngài, thế là ngài qua đời. Tổ Sư Tử và Bồ tát An Thế Cao tuy trả nghiệp, thọ báo nhưng tâm các ngài vẫn an nhiên tự tại như không có thọ báo.

TRUYỀN THUYẾT QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT - LẦU QUÁN ÂM

TRUYỀN THUYẾT QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT - LẦU QUÁN ÂM


Vào thời Đông chinh, vua Đường Thái Tông mỗi lần đi hay về cũng đều ngừng chân lại ở Kế Châu. Về tới Trường An rồi, để chứng tỏ sự lưu tâm của mình đối với dân chúng ở Kế Châu, vua đặc biệt phái Uất Trì Kính Đức đến đấy trông coi việc xây cất một ngôi chùa.

Lệnh của vua là phải xây một ngôi chùa to nhất nước, và khắc một pho tượng Phật cũng lớn nhất nước, toàn quốc không có ngôi chùa nào hay pho tượng Phật nào lớn bằng. Uất Trì Kính Đức phụng mệnh vua, bèn triệu tập hơn mười người thợ nổi tiếng, bảo họ phác thảo mô hình một cái lầu Quán Âm cho chùa Đại Phật. Ông đòi hỏi rằng:

– Tượng Phật cao nên lầu cũng phải cao. Không được dùng đinh, không được dùng ốc. Bây giờ các ông cũng như Bát Tiên sang sông vậy, mỗi người hãy về thi thố tài năng của mình đi!

Một tháng sau, những người thợ trình lên cho ông một vài mô hình, nhưng ông xem một lúc, lắc đầu không ngừng, không có cái nào được ông chấm cả. Cái thì bắt chước những kiến trúc bằng gỗ đã từng xây ở chỗ khác rồi nên không có cá tính gì cả; cái thì quá cứng ngắc, không đủ đẹp mắt và trang nhã; cái thì tạm có thể gọi là tinh xảo nhưng lại không thể chứa được một pho tượng Phật cao năm, sáu trượng.

Một tháng lại trôi qua, đám thợ lại trình lên một vài mô hình khác. Uất Trì Kính Đức mới thoạt nhìn đã giận quá, râu xõa ra hết, vì mấy cái mô hình ấy, cái nào cũng như cái nấy, chỉ là những đồ bỏ đi không hơn không kém! Ông lớn tiếng quát lên:

– Đồ ngu! Đồ ngu!

Không có mô hình nào của lầu Quán Âm làm cho Uất Trì Kính Đức vừa ý, khiến ông lo lắng sủi cả bọt mép, ăn thì nuốt không xuống, ngủ thì không chợp mắt được.

Buổi chiều hôm ấy, ông ngồi nốc một mình hai lượng rượu giải sầu, mê mê tỉnh tỉnh dựa vào chồng mền được xếp ngay ngắn đằng sau lưng, đột nhiên thấy một ông lão râu đen đẩy cửa bước vào phòng, tay cầm một cái lồng dế. Uất Trì Kính Đức nhìn cái lồng, nó không giống một cái lồng dế bình thường mà lại tinh xảo đặc thù, hình dáng như một cái lầu các, từ ngoài nhìn thì thấy có hai gian, từ trong nhìn thì thấy có ba tầng, ở giữa trống không thông lên tới đỉnh. Mắt ông chợt sáng lên, đây đúng là một mô hình của lầu Quán Âm mà ông thấy trúng ý mình nhất. Ông vội hỏi:

– Sư phụ à, cái lồng dế này bao nhiêu tiền?

Ông lão râu đen đáp:

– Bao nhiêu cũng không bán.

Uất Trì Kính Đức lo quá:

– Tôi đặc biệt cần một cái lồng dế như thế này.

– Tôi đặc biệt đem cái lồng này đến tặng ngài đó chứ!

Nói xong ông lão râu đen đặt lồng dế lên bàn, quay người bỏ đi ra ngoài.

– Ông ơi khoan đi đã, để tôi trả tiền cho ông!

Uất Trì Kính Đức đưa chân lên toan chạy đuổi theo thì “huỵch” một tiếng, ông từ giường lăn xuống đất, thì ra đó chỉ là một giấc mộng!

Ông đứng dậy, lượt qua một lần trong óc những gì đã mộng thấy, mừng rỡ quá chạy ra khỏi phòng và ngay đêm ấy, cho gọi bọn thợ đến, tả lại cho họ nghe tỉ mỉ hình dáng cái lồng dế mà ông đã thấy trong mộng.

Bọn thợ nghe xong thì hiểu ý ông một cách rõ ràng. Họ làm việc ngày đêm không ngừng, chẳng lâu sau đã tạo được một cái mô hình của lầu Quán Âm. Uất Trì Kính Đức nhìn qua là vừa lòng ngay, thế là chỉ mấy ngày sau họ khởi công xây cất.

Ba tháng nữa trôi qua, sườn cốt của lầu Quán Âm đã được dựng lên, họ bắt đầu đóng cái rui. Một buổi trưa nọ, bọn thợ đang ngồi dưới đất vừa ăn cơm vừa cười nói vui vẻ, thì có một ông lão râu đen bước đến vái chào và nói:

– Tôi là thợ mộc, đi cùng với gia đình ngang qua đây nhưng hết tiền lộ phí, xin quý ông vui lòng cho tôi xin một chút cơm.

Bọn thợ nói:

– Mời ông ngồi xuống đây ăn chung với chúng tôi.

Ông lão đưa chén lên, và mấy và cơm rồi gắp một gắp rau bỏ vào miệng, vừa nhồm nhoàm nhai vừa nói:

– Thiếu muối!

– Ông ăn mặn quá nhỉ, chúng tôi đã bỏ muối vào rau nhiều rồi đấy!

Một người thợ vừa nói vừa đưa cho ông một nhúm muối.

Ông lão lại gắp rau rồi nói một lần nữa:

– Thiếu muối!

Một người thợ khác lại bốc muối đưa cho ông. Sau một lúc ông lại gắp rau ăn, dùng tay lau mồm, ngẩng cổ lên nhìn lầu Quán Âm, lắc đầu bước ra ngoài bỏ đi, vừa đi vừa lầu bầu:

– Thiếu muối! Thiếu muối!

Sau đó bọn thợ kể lại chuyện này cho Uất Trì Kính Đức nghe, ông này giật mình và nhận ra ngay: vóc người cùng mặt mũi của ông lão râu đen này giống y hệt với ông lão đã đem lồng dế lại cho mình trong mộng, không phải là thầy Lỗ Ban hiển thánh đó sao?

Ông đứng trước lầu Quán Âm, một mặt nhìn cái rui đã đóng xong, một mặt suy nghĩ đến hai chữ “thiếu muối”. Thật lâu sau, ông chợt tìm ra đáp số cho bài toán đố trên: thì ra cái rui đỡ mái hiên ngắn quá! Chữ diêm (鹽) là muối đồng âm với chữ diêm (檐) là cái mái hiên, cũng đọc là thiềm; chữ đoản (短) là thiếu, cũng có nghĩa là ngắn. Ông lão luôn miệng chê “thiếu muối” là ý muốn nói mái hiên quá ngắn.

Ông bảo thợ leo lên giàn, nối cái rui dài ra một xích.

Ôi! Tuyệt vời! Chống cái đấu xong thì mái hiên lầu dường như muốn cất cánh bay lên vậy! Thế là Uất Trì Kính Đức ra lệnh chỗ nào của rui mái hiên có dáng hất lên như nét “khiêu” thì đều nối dài ra một xích.

Một năm sau, lầu Quán Âm xây xong, Uất Trì Kính Đức muốn mời người đến viết cho một tấm biển, nhưng những nhà thư pháp nổi danh không phải dễ tìm.

Đêm hôm ấy ông vừa chợp mắt ngủ thì Lỗ Ban lại đến trong mộng bảo rằng:

– Chuyện viết biển đó, ông khoan hãy gấp. Hiện nay có một ngôi sao Thái Bạch vừa mới giáng trần, sinh ra sẽ là một nhà thơ rất lừng danh, hãy đợi ông ta viết biển cho!

Thế là Uất Trì Kính Đức không làm biển, và quả nhiên về sau khi nhà thơ Lý Bạch nổi tiếng rồi thì có người mời viết cho bốn chữ “Quán Âm chi Các” trên một tấm biển vuông.

Uất Trì Kính Đức cung kính lễ lạy Lỗ Ban, vị thợ tài ba ấy. Xây xong lầu Quán Âm rồi, ông bèn dặn thợ lập một cái miếu cho Lỗ Ban ở phía đông cách đó không xa. Vì Lỗ Ban tên thật là Công Thâu Ban, là người nước Lỗ nên dân chúng quen gọi là Lỗ Ban, do đó miếu có tên là “Công Thâu tử miếu”.

Hiện nay cái miếu tinh xảo, đặc thù ấy hãy còn tồn tại.

Thơ Trần Nhân Tông

Sáng dậy, mặt trời mọc phía đông.
Lát sau đã thấy đứng trên không.
Mà người như thể đang mê ngủ,
Chẳng hay vạn vật vẫn xoay vòng.
Hoa nở rồi tàn, hoa lại nở.
Sự đời suy thịnh, có mà không.
Sao chẳng tĩnh tâm ngồi suy nghĩ,
Tự mình gây khổ, cứ long đong?

(Trần Nhân Tông)
(HC).

KỆ KHUYÊN NIỆM PHẬT

KỆ KHUYÊN NIỆM PHẬT
**************
Niệm Phật thường phải tâm niệm gấp.
Tư duy biển nghiệp khổ thâm sâu.
Sinh tử rối ren, hối khó kịp!
Ngũ ấm hư vọng, mộng huyễn thân
Nhờ duyên bồi đắp đống bụi trần
Tử thần chợt đến sao chống đỡ
Gấp niệm Di Đà gắng chuyên cần!

(Thiện Đạo Đại Sư)

Công đức mình tạo được có thể hồi hướng cho người khác

Công đức mình tạo được có thể hồi hướng cho người khác

* * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *
Phật giáo tin tưởng vững chắc rằng, công đức do mình tu tập, có thể hồi hướng cho người khác được hưởng. Hồi hướng là chuyển từ phía mình, sang phía người khác. Đó là một sự cảm ứng tâm lực. Tâm lực của mình, thông qua nguyện lực của chư Phật, Bồ Tát mà đạt tới đối tượng của sự hồi hướng. Cũng như ánh sáng mặt trời, thông qua vật phản xạ như tấm gương, mảnh kinh loại, mà được khúc xạ, chiếu dọi vào các góc tối tăm. Ở trong nhà cũng vậy. Các góc tối ở trong nhà tuy không trực tiếp được ánh sáng mặt trời chiếu đến nhưng vẫn tiếp thu được ánh sáng mặt trời phản chiếu.

Đồng thời, tuy có hồi hướng công đức cho người khác nhưng bản thân công đức của mình không bị hao hụt gì hết. Trong kinh Phật, có nêu ví dụ : Một cái đèn sáng, có thể dùng để châm sáng cho nhiều cái đèn khác, nhưng ánh sáng của cái đèn thứ nhất vẫn không bị giảm bớt.

Do đó, các Phật tử chính tín, một khi làm nên một công đức gì đều nên phát nguyện hồi hướng đến hết cả chúng sinh cùng được hưởng. Đó cũng là một biểu hiện tự nhiên của lòng từ bi.

(HT. Thích Thánh Nghiêm)