Thursday, April 18, 2013

Hãy Phát Tâm Ăn Chay


Hãy Phát Tâm Ăn Chay

*********************

Ngạn ngữ có câu: “Xưa nay trong một bát canhl Oán sâu như bể hận thành non cao; Muốn hay nguồn gốc binh đao; Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh”. Tất cả loài chúng sinh, từ loài có vảy, có mao, lông vũ... thể chất tuy khác người, nhưng sự hiểu biết và đau khổ đâu có khác con người. Bởi đời trước tạo nghiệp bất thiện nên đời này phải làm thân súc sinh. Theo quan điểm của đạo Phật: “Mọi vật đều bình đẳng một thể, đó là đại bi” và xem mọi loài chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ thành Phật, cho nên chủ trương ăn chay và phóng sinh. Trong cuộc sống, con người bị Ngũ dục chi phối, chỉ vì muốn ăn ngon nên sát sinh để nuôi dưỡng thân mạng.

Song, họ không biết rằng, ăn thịt chúng sinh là một sự thật vô cùng nhẫn tâm. Người ta đã làm ngơ trước sự kêu gào thống thiết khổ đau của chúng sinh khi bị giết. Vì vậy mà ta ăn chay để thể hiện lòng thương xót loài vật, không nỡ đóng gióp thêm vào nỗi thống khổ của cuộc sống đầy đau thương bị hành hạ, đánh đập. Trước khi chết còn phải chịu sống những ngày kinh hoàng trên những chiếc xe chuyên chở khổng lồ, đói khát, dồn ép trong một trạng thái thần kinh rất khủng khiếp, rồi bị lùa vào hành lang dẫn đến lò sát sinh, để nghe thấy những tiếng thét thất thanh trong phút giây giãy chết. Trong kinh Hồng Danh cũng có nói: “Không tự mình giết, không bảo người giết, không tán đồng việc giết chóc”. Nhìn kỹ vào trong một miếng thịt, chúng ta sẽ thấy máu me tràn đầy, nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta sẽ thấy dẫy đầy sự đau khổ.

Một trong những lời dạy quan trọng cốt tủy của đức Phật là phải dùng tâm bình đẳng đối xử với mọi loài, cả người lẫn vật. Vậy là Phật tử, chúng ta nên phát tâm ăn chay, vì ăn chay làm ta tăng trưởng lòng từ bi, bình đẳng đối với mọi loài. Ăn chay sẽ giúp cho chúng ta được nhẹ nghiệp vì tránh được sát sinh. Nhờ vậy mà thân tâm ta được thanh tịnh và cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi ăn chay tức là ta đã gieo cái “nhân” tốt thì tất nhiên cái quả sẽ tốt. Điều chắc chắn là người nào ăn chay đều cảm thấy tâm hồn trở nên an lạc, dễ dàng gần gũi và thông cảm với loài vật và yêu mến thiên nhiên. Ăn chay hay không ăn chay, tất cả điều tùy thuộc vào sự hiểu biết chính chắn và lòng từ bi của mỗi người. Chúng ta có quyền lựa chọn, lựa chọn ăn chay hay ăn thịt cá cho ngon miệng không phải là vấn đề quan trọng, mà là chọn một lối sống có ý nghĩa mới là điều quan trọng. Ăn trên nỗi đau đớn của chúng sinh thì chắc chắn không phải là một lối sống có ý nghĩa. Vì những lẽ trên nên chúng ta hãy phát tâm ăn chay, và trong tinh thần của Phật giáo, ăn chay còn là một pháp môn tu tập. Việc ăn chay không những giữ gìn thân thể khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh. Vì thế, chúng ta nên phát nguyện đời đời kiếp kiếp không dùng thịt các loại súc sinh, động vật để làm thực phẩm nuôi sống thân mạng mình. Xin nguyện cho tất cả mọi người và mọi loài đều có tâm nguyện này.

(Thích Nhuận Thạnh)

Bố thí Phật Pháp là sự bố thí thù thắng


Bố thí Phật Pháp là sự bố thí thù thắng

********************

Pháp thí : Sự thiếu thốn khó khăn về vật chất làm cho con người đau khổ, nhưng sự nghèo nàn mất mát về tinh thần càng làm họ thấy bất hạnh hơn. Cái khổ về tinh thần gay tổn hại nhiều hơn cái khổ về vật chất, nhiều khi ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và cả tính mạng con người. Y học đã chứng minh rất nhiều trường hợp loét dạ dày, tá tràng, bệnh tim mạch, và đặc biệt là hội chứng kích động thần kinh (stress) là hậu quả của sự căng thẳng, lo nghĩ hay buồn phiền lâu ngày.

Các vị tu hành đem Phật pháp giảng dạy cho chúng sanh, mục đích làm chúng sanh bớt khổ, đó gọi là pháp thí, nhưng cũng tùy trình độ căn cơ của từng người mà lập phương tiện giáo hóa, cũng như tùy bệnh mà cho thuốc (khế cơ), và những lời giảng dạy phải phù hợp với chánh pháp, phải có giá trị bất di bất dịch (khế lý). Khi Phật pháp được truyền bá rộng rãi theo tinh thần khế cơ và khế lý, chúng sanh nương vào đó tu hành, cuộc đời sẽ được an lạc, xã hội nhờ đó cũng yên bình thịnh vượng.

Pháp thí quan trọng hơn tài thí như thế nào ?, trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng vương, quyển ba, phẩm Diệt Nghiệp Chướng, Phật dạy : “Này Thiện Nam! Giả sử có người đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới cúng dường Như Lai, nếu lại có người khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân,, thì người này được công đức hơn người kia. Vì sao? – vì người kia dùng tài thí, người này dùng pháp thí. Này Thiện Nam !. Đừng nói chi đem cả bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí, mà nếu có người đem bảy báu nhiều như hằng hà sa tam thiên đại thiên thế giới cúng dường tất cả chư Phật, thì công đức khuyến thỉnh cũng vẫn hơn cả sự cúng dường ấy, do vì pháp thí có năm điều thù thắng. Những gì là năm ? – Một là, pháp thí gồm cả lợi mình, lợi người, còn tài thí không được như thế. Hai là pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi, còn phước tài thí chẳng ra khỏi cõi dục. Ba là pháp thí làm pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Bốn là, pháp thí thì vô cùng, còn tài thí có cùng tận. Năm là, pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái. Thế cho nên, này thiện nam !Công đức khuyến thỉnh vô lượng vô biên, không thể thí dụ”.

Ở nay Phật chỉ rõ năm điều thù thắng của pháp thí:

Thứ nhất : , pháp thí gồm cả lợi mình, lợi người. Ví dụ, khi một người nói pháp cho một đám đông nghe, trước hết người ấy có lợi ích vì đã gieo một nhân tốt là bố thí pháp; người nghe được chánh pháp, nếu y đó tu hành, cuộc đời sẽ được chuyển hóa, tâm sẽ được thăng hoa. Tài thí thì không được như vậy, vì nếu bố thí để họ dùng phương tiện đó làm điều xấu, thì chính sự bố thí ấy lại làm hại cho họ và cho những người xung quanh

Thứ hai : Pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, nếu chúng sanh biết tu hành theo chánh pháp, đọan trừ tham – sân – si , được giác ngộ và giải thoát. Nếu dùng tài thí, đó là đang tu phước hữu vi, giỏi lắm cũng sanh về cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên, tức chưa giải thóat cỏi dục. Rồi khi hưởng hết phước, có thể lại bị đọa vào các đường ác.

Thứ ba : Pháp thí làm pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Sắc thân của chúng ta do nghiệp tạo nên, dễ bị hoại diệt, biến đổi vô thường; nhưng trong đó còn có pháp thân vô tướng, không bị biến hoại theo thời gian và không gian. Nếu trong suốt cuộc đời, chúng ta chỉ lo chăm sóc cho cái sắc thân, thỏa mãn những nhu cầu của nó là ăn, mặc, ở, tức cái hạ tầng kiến trúc của đời sống, mà quên đi phần thượng tầng kiến trúc là văn hóa, tâm linh, thiền định, trí tuệ, thì rỏ ràng chúng ta chỉ sống bằng bản năng như loài vật. Chỉ có thượng tầng kiến trúc mới nuôi dưỡng pháp thân, còn những nhu cầu vật chất tầm thường chỉ làm cho chúng ta mãi chìm trong vô minh tăm tối. Pháp thí sẽ giúp chúng ta biết chánh đạo, sống với cái cao cả, cái minh triết, là những yếu tố quyết định sự tiến hóa của toàn thể loài người.

Thứ tư : Pháp thí thì vô cùng, vì nó không có tướng mạo, nên không bị mai một theo thời gian. Người thí pháp vô cùng, vì có thể nói pháp suốt đời, nói ở mọi chổ mà vẫn mãi mãi lưu xuất được; người nghe pháp cũng vô cùng, vì dùng pháp để tu theo suốt đời vẫn không hết, không cạn. Ngược lại vì tài thí có hình tướng, nên có giới hạn có cùng tận

Thứ năm : Pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái. Khi nghe pháp, sự hiểu biết của chúng ta càng sâu rộng, trí tuệ càng phát triển, đến rốt ráo có thể dứt được vô minh. Tài thí thì chỉ tạm giải quyết khó khăn trước mắt cho người được bố thí, còn người bố thí thì cũng tạm thời khuất phục được tham ái ngay lúc ấy mà thôi.

Do những đặc tính quá ưu việt của pháp thí đã nói trên, rõ ràng công đức của người pháp thí và người khuyến thỉnh pháp thí vô lượng vô biên, tài thí không thể so sánh nổi. Nếu mỗi tự viện đều là những nơi được khuyến thỉnh pháp thí, thì Phật tử sẽ được muôn phần lợi laic, đời sống được cải thiện, đau khổ sẽ không còn và xã hội cũng được trong sạch hơn lên. Vì vậy, đã là Phật tử, chúng ta phải luôn trao dồi học hỏi, ngày càng thâm nhập Phật pháp để chuyển hóa tự thân, tự cứu mình ra khỏi mọi ràng buộc khổ não của đời sống. Sau đó chúng ta đem sự hiểu biết bằng trí tuệ và sự thanh lương của tâm hồn mình ra giúp ích cho người khác, thì hành động pháp thí ấy mới có kết quả.

(THÍCH THÔNG HUỆ)

Sân Hận Tàn Phá Dung Nhan (truyện tích Phật giáo)



Sân Hận Tàn Phá Dung Nhan (truyện tích Phật giáo)

**********************
Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở tại rừng Banyan, liên quan đến Rohinì, thiếu nữ Sát-lợi. Một thuở nọ, Tôn giả A-nậu-lâu-đà trở về thành Ca-tỳ-la-vệ với năm trăm Tỳ-kheo tùy tùng. Hoàng tộc họ Thích nghe tin đều đến tinh xá đón chào, trừ cô em Rohinì. Tôn giả hỏi:
- Rohinì đâu?
- Thưa Tôn giả, còn ở nhà.
- Sao không đến?
- Thưa Tôn giả, công nương bị nổi mụn nhọt đầy người, nên xấu hổ khi đi ra ngoài.
- Hãy gọi Rohinì đến ngay.
Rohinì được gọi, che mặt dưới một lớp vải và đi đến. Khi nàng tới, Tôn giả hỏi:
- Sao cô không đến trước?
- Thưa Tôn giả con bị nổi mụn trên mặt, nên xấu hổ không dám đi đâu.
- Vậy sao không làm việc công đức?
- Thưa Tôn giả, con có thể làm gì?
- Hãy xây cất một giảng đường.
- Việc ấy tốn kém bao nhiêu?
- Cô có một bộ nữ trang nào không?
- Thưa, con có.
- Trị giá bao nhiêu?
- Khoảng mười ngàn.
- Tốt lắm, đem chi dùng trong việc xây cất.
- Ai sẽ xây cất cho con?
Tôn giả nhìn những hoàng thân đang đứng gần và nói:
- Ðây là bổn phận các vị.
- Nhưng, bạch Tôn giả, còn Ngài sẽ làm gì?
- Tôi ở đây, các vị đem vật liệu xây cất đến cho Rohinì.
- Thưa, vâng.
Và họ mang vật liệu đến, Tôn giả đưa ra đồ án xây cất, bảo Rohinì:
- Hãy cho xây cất một tòa nhà hai tầng, và khi tầng trên đã xong xuôi, cô đứng ở tầng dưới dọn quét sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn và rót nước đầy các bình.
- Thưa, vâng.
Rohinì vâng lời, nàng bán toàn bộ nữ trang để lấy tiền xây cất. Khi tầng trên vừa xong, nàng đích thân dọn dẹp để đón chư Tỳ-kheo, ngay khi đó các mụt nhọt lặn hết.
Khi tòa nhà hoàn thành, nàng mời chư Tăng được đức Phật dẫn đầu đến ngồi đầy nhà. Nàng dâng cúng thức ăn chọn lọc cả cứng và mềm. Phật thọ trai xong, hỏi:
- Ai cúng dường hôm nay?
- Thưa, cô Rohinì, em của Ngài, bạch Thế Tôn.
- Hãy gọi đến đây.
Nàng không muốn đi ra, nhưng Phật vẫn cho gọi nữa. Khi Rohinì đến, đảnh lễ Phật và ngồi, Phật hỏi:
- Rohinì, sao cô không đến trước?
- Bạch Thế Tôn, con bị nổi mụn nhọt khắp người nên xấu hổ không dám đi.
- Cô có biết nguyên nhân nào khiến mụn nhọt lan đầy người không?
- Thưa không.
- Chính vì lòng sân hận gây nên.
- Tại sao vậy, con đã làm gì?
- Hãy nghe đây!
Phật kể chuyện: Thời quá khứ, có một hoàng hậu của vương quốc Ba-la-nại sanh tâm đố kỵ với một vũ nữ của hoàng gia, bà thầm nghĩ: "Ta sẽ làm cho nó đau khổ". Bà liền tìm thật nhiều mày ghẻ đã khô, nghiền nát thành bột và cho gọi cô vũ nữ đến chỗ bà, bí mật sai người rắc bột ghẻ lên giường, ghế và khăn áo của cô. Rồi làm như đùa cợt, bà tung một ít bột lên mình cô. Lập tức cô gái nổi mụn nhọt khắp mình, nó lở loét trông rất ghê tởm, cô vừa đi vừa cấu khắp mình. Khi về nằm trên giường, bột ghẻ lại dính chặt vào da, cô bị đau đớn đến tột cùng. Bà hoàng ấy là Rohinì ngày nay.
Phật kể xong chuyện quá khứ, Ngài dạy:
- Rohinì, đó là hạt giống xấu mà cô đã gieo. Giận hờn hay ganh ghét, tuy ít bao nhiêu cũng không phải là điều chánh đáng.
Ngài nói kệ:
(221) Bỏ phẫn nộ, ly mạn,
Vượt qua mọi kiết sử,
Không chấp trước danh sắc,
Khổ không theo, vô sân.
Nghe xong, nhiều thính chúng chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả. Rohinì cũng chứng Sơ quả. Ngay khi ấy toàn thân cô trở nên vàng óng.
(Thiền viện Viên Chiếu soạn)

Friday, April 12, 2013

Kinh pháp cú giảng giải - Thầy Thích Chân Quang


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%201.Tam%20lam%20chu.doc
Tải Mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%202.Hiem%20han.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%203.Tranh%20cai.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

 Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%204.Quan%20bat%20tinh.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%205.Tuong%20la%20dung.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%206.Van%20de%20tinh%20duc.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%206.Van%20de%20tinh%20duc.doc
Tải mp3:https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%207.Doi%20sau%20con%20nhieu%20hon.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar


Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%208.%20Dung%20lam%20ke%20chan%20bo%20thue.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

Tải sách: http://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%209.Nguoi%20song%20co%20y%20nghia.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

Tải sách:https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/Kinh%20Phap%20Cu%20-%2010.%20Buoc%20len%20dinh%20nui%20cao.doc
Tải mp3: https://e-kinhphapcu.googlecode.com/files/KINH_PHAP_CU_1.rar

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:

Tải sách:
Tải mp3:



Nguồn: http://www.youtube.com/watch?v=4AfY6P_pZgg&list=PLBD3C6B18F55AF54A

Xem thêm tại: www.phatam.com


Thursday, April 11, 2013

Thiện - Ác: Ranh giới mỏng manh


Thiện - Ác: Ranh giới mỏng manh

(Kienthuc.net.vn) – Thiện và ác là hai mặt đối lập nhưng cùng tồn tại song song trong một con người. Vì vậy, ranh giới giữa thiện và ác nhiều khi không rõ rệt, có thể dễ bị hiểu lầm.

 Thiện là cửa ngõ của sự an lạc và hạnh phúc
Cần phải hiểu đúng thiện, ác
Theo đạo Phật, ác có nghĩa là hành động, lời nói hay ý nghĩ xấu thường gây tai họa, đau khổ cho chính mình hay cho người khác hoặc cho cả hai.

Còn thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường đem lại an vui, hạnh phúc cho chính mình, cho người khác hoặc cho cả hai. Khiến người thương mến, thích thân cận, có tác dụng tốt, đem đến kết quả mong đợi.

Như vậy, đây là hai hành vi đối lập. Thiện là những gì nên làm và đem lại lợi ích chính đáng. Ác là những gì không nên làm và phải tránh, nếu làm là đem lại đau khổ.

Trong Phật giáo được xác định rõ qua giáo lý nghiệp báo, trong đó căn bản có mười thiện nghiệp và mười bất thiện nghiệp, được chia làm ba phần theo thân, miệng, và ý. 

Phạm vào những điều căn bản trên thì gọi là bất thiện (xấu, ác - PV). Trái lại, nếu không phạm mười điều trên và nỗ lực phóng sinh, bố thí, tịnh hạnh, nói lời chân thật, ái ngữ, hòa hợp, từ ái, và tu tập các thiện pháp... được gọi là thiện nghiệp.
Tuy nhiên có sự khác nhau trong các quan niệm về thiện ác, bởi trên thế giới có nhiều tôn giáo hình thành từ nhiều nền văn hoá khác nhau. Do vậy quan niệm về thiện ác cũng có những điều khác nhau.

Bên cạnh đó, theo tài liệu về Phật giáo thì thiện, ác có những loại khác nhau. Bao gồm: Hữu lậu ác là những hành động độc ác khiến loài người bị đọa trong sự luân hồi sinh tử.

Thứ nữa là hữu lậu thiện. Đó là làm những điều lành, có thể làm cho người và mình hưởng những quả báo lành. Cuối cùng là vô lậu thiện, tức làm những việc thiện mà không có ngã chấp, không cầu mong quả báo.

Ranh giới giữa thiện và ác là…mỏng manh

Phật giáo quan niệm: “Những gì hợp lý và lợi lạc cho người và cho mình trong hiện tại và tương lai là thiện, trái lại là ác. Tuy nhiên ranh giới giữa thiện và ác nhiều khi không rõ rệt, có thể dễ bị hiểu lầm”

Theo Tỳ kheo Thích Chân Tuệ (Phật học Tịnh Quang – Canada) nhận định: “Muốn xét thiện hay ác, còn phải xét xem tâm con người muốn gì? Khi hành động, nói năng hay suy nghĩ với mục đích gì? Người ngoài cuộc phê bình, phán xét đôi khi không chính xác nên thận trọng”

Nhưng chúng ta cần thận trọng những gì? Trên thực tế, có rất nhiều người đi làm từ thiện, bằng hình thức ủng hộ tịnh tài (tiền – PV) hoặc tịnh vật (của cải – PV). Song nếu làm ơn giúp người thường được xem là việc thiện nhưng giúp người làm chuyện gian dối, phi pháp thì nên xem là việc ác.

Ví dụ hiện nay có nhiều Phật tử phát tâm cúng dàng ấn tống kinh sách hay băng giảng…đây là một việc đáng để tán thán. Nhưng nếu mình chưa biết rõ nội dung, chưa biết chắc là chính pháp hay tà pháp mà đã ấn tống thì đó không phải là thiện mà đang gây oán hoặc tạo ác.

Hay có nhiều người đến chùa làm công quả. Đây là việc thiện, việc phước nhưng nếu trong lòng khởi vọng tâm, khởi tâm sân hoặc khởi tâm kiêu mạn thì việc chấp tác ở chùa từ thiện biến thành ác.

“Chúng ta khi tu hành cần quan tâm thiện ác, để cho những lời nói và ý nghĩ của mình không làm tổn hại, gây đau khổ cho người khác vì tham, sân, si. Nếu có người khác nhắc nhở sự sai sót là việc thiện giúp mình tốt hơn, mình lại nổi sân thì nên xem là việc bất thiện” – Tỳ kheo Thích Chân Tuệ cho hay. 

Theo đó, khi tu theo đạo Phật chúng ta không nên khởi vọng tâm, không nên khởi vọng niệm, không mong cầu được điều này, đắc điều kia. Ngoài ra không van xin khấn vái mà phải nên hiểu sâu luật nhân quả, khai mở trí tuệ, hiểu suốt thiện ác. 

Nghĩa là, khi mình gieo nhân bỏ điều ác, làm việc thiện, tức là chúng ta có đủ phước báu thiện lành. Chỉ cần khai mở trí tuệ giác ngộ, đạt bản tâm thanh tịnh thì hưởng quả giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Đó là mục đích chính của đạo Phật.

“Là người con Phật, ai cũng hiểu đạo Phật không chủ trương lấy thiện diệt ác. Đạo Phật chủ trương chuyển hóa nghiệp ác thành nghiệp thiện; chuyển hóa ba nghiệp chưa thanh tịnh thành ba nghiệp thanh tịnh; chuyển hóa kẻ hung ác thành người lương thiện”- Tỳ kheo Thích Chân Tuệ khẳng định.

Ta tu từ những thị phi cuộc đời...


Ta tu từ những thị phi cuộc đời...

Đây đâu phải là lần đầu tiên mình gặp phải những chuyện thị phi như thế này, cũng không phải là chuyện to tát vậy nên có chi mà mình phải buồn như vậy chứ?
Thời gian của mình chỉ còn là những khoảng ít ỏi nên dù thế nào đi nữa mình cũng bỏ qua tất cả cho những lời nói không hay đó, cho đó là những việc vụn vặt nhất của mình.

Gặp những điều thị phi, cho nó là điều bình thường và có như vậy mình mới hết cảm giác bị xúc phạm, cảm giác đó đã bị mình đè bẹp, bóp nghẹt thở nó luôn.
 Tu là từ những thị phi, ta vượt thoát phiền não - Ảnh minh họa
Mình còn nhớ như in lời thầy dạy: “Con hãy coi mình như một cái giẻ lau bàn đó, hãy coi mình như cọng rơm rác ở ngoài cống đó con. Đừng bao giờ con cho mình là cao sang, cho dù người ta có đối xử với con như thế nào thì con vẫn mãi mãi giữ vững một cái tâm kiên cường, một cái tâm tràn đầy nhựa sống yêu thương con nhé!”. Và nhờ vậy mà mình vượt qua, bỏ qua, hoan hỷ cả những điều khó hoan hỷ như chuyện thị phi, nói sau lưng, hay oan ức (không phải là không có ở chốn thiền môn).
Con không có đủ duyên được làm đệ tử xuất gia của thầy nhưng con may mắn hơn rất nhiều người là được thầy chỉ dạy, khuyên bảo chỉ dẫn lối đi cho con trên bước đường tu tập.
Bữa hôm qua đi cùng thầy, lại được ở bên thầy với những tình cảm mộc mạc đó. Thầy chỉ dạy con phương pháp giải trừ phiền não, là mình đừng có chấp, đừng có nghe người ta nói rồi nổi nóng, sanh tâm buồn giận, trách hờn... Mình trộm nghĩ, nếu ai cũng như thầy thì có lẽ không ai trên thế gian này biết thế nào là thị phi, thế nào là những chướng ngại trong đường tu thầy nhỉ? Cuộc đời đâu có cho không chúng ta một thứ gì mà chúng ta phải đổi lại nó với những thứ xứng đáng hơn, cũng chưa ai tự nhiên ban tặng cho ta vật quý nào đó mà ta không phải đổi lại bằng một vật quý khác và con đã nhận ra được những điều này khi con bình tâm suy nghĩ lại thầy ơi!
Con sẽ lắng nghe, quan sát mọi điều xung quanh con, con hứa con sẽ bao dung với trí tuệ còn non kém của mình, bằng sự tu tập của con, thưa thầy. Có lẽ con sẽ nói: “Cảm ơn người đã đem đến cho tôi những thị phi và tôi nguyện sẽ đón nhận điều đó như đón nhận những món quà của cuộc sống…”. Làm được vậy chắc cuộc sống sẽ thi vị hơn rất nhiều.
Con hiểu được hạnh phúc không tự nhiên đến bên mình và đau khổ cũng không phải đem cho người khác và hạnh phúc không thể đóng gói gửi cho mọi người. Khổ đau cũng không thể gạt hết sang người khác. Nó đến từ cuộc sống, từ thiên nhiên, từ những gì tưởng như vô tình và nhất là từ những thọ cảm nơi tâm mình. Hạnh phúc đến, nhưng nó thường không đến theo cách mà chúng ta sắp đặt. Đó là điều tự nhiên, hay nói đúng hơn, nó đến khi tâm mình rỗng rang, không lo lắng, muộn sầu, không để cho những thị phi tác động.
Mình thường sướng rơn khi ai đó khen và bực bội khi ai đó chê, vì thế mình cứ chạy như bị ma đuổi bởi cứ luôn nghe ngóng, phòng vệ. Tâm bình thường là đạo, thầy dạy thế mà mình quên hay mình nhớ như một cách thuộc lòng, không ứng dụng… Nên khổ!
Nghĩ thế, để nhắc mình, rằng: “Hãy đủ tinh tế để sống một cuộc sống an lành nhất mà chúng ta có thể, không chạy theo chi lời khen, tiếng chê nơi cửa miệng cuộc đời”.
Thích Như Đức

Cái tôi trong mỗi con người


Cái tôi trong mỗi con người

Hiểu được giá trị thật về cái tôi của mình, người ta có thể “là chính mình” và sống thật với mình hơn. Họ sẽ không bị môi trường chung quanh chi phối cách nhìn về “cái tôi” của họ, không mặc cảm tự ti, không dễ bị tổn thương hay chạm tự ái.
Con người từ khi ra đời đã tồn tại cái tôi. Tự điển Thesaurus định nghĩa về cái tôi (hay ngã kiến – egoism/the selfness) là sự tự nhận thức của một người về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính mình, đặc biệt là để phân biệt mình với thế giới bên ngoài và các cá nhân khác.

                                              Ảnh minh họa
Cái tôi trong mỗi người phát triển theo thời gian. Khi còn nhỏ, người ta ít bị các yếu tố xã hội tác động vào nhận thức về chính mình, nói cách khác, cái tôi được phát triển tương đối độc lập. Một em bé sẽ ít bị tổn thương như người lớn khi bị phê bình hay khiển trách. Trong khi đó người lớn có thể tức giận rất lâu và phản ứng rất nặng nề nếu bị chạm tự ái.
Quan niệm về cái tôi thường được hiểu theo hai khía cạnh: (1) Tích cực: sự hãnh diện phù hợp về những giá trị, nhân phẩm của chính bản thân; (2) Tiêu cực: sự nhận định sai về những giá trị, nhân phẩm của mình đưa đến sự tự ti hay tự tôn.
Ở đây không bàn đến trường hợp của một người hay nhún nhường hoặc thường khoe khoang vì lý do nào đó trong giao tiếp xã hội. Một người không nhìn thấy được giá trị của chính mình sẽ cảm thấy bi quan và dễ bị tổn thương. “Mình thật là vô tích sự”, “Tôi thật là xấu xí, v.v…, đó là một số những suy nghĩ thường có của những người luôn hoài nghi về giá trị thực sự của mình. Khi bị chìm đắm trong sự tự ti, mặc cảm, người ta thường suy diễn, so sánh mọi việc để cuối cùng tự cho mình là kẻ thua cuộc. Không hài lòng với chính mình, ta cũng chẳng vui vẻ, cởi mở với ai. Tự ti có xu hướng sinh ra tự tôn. Khi bị đè nén, cái tôi bị bóp méo và khi chính chủ nhân thổi phồng nó lên (sau khi đã đè nén nó), thì nó lại là sản phẩm của trạng thái tâm lý không tự chủ và giả tạo.
Tôi rất tâm đắc với một câu chuyện kể về Đức Đạt Lai Lạt Ma, người có một quan điểm đơn giản nhưng rất thiết thực về cách làm sao để tìm thấy sự tự tin cho mình. Khi được hỏi: làm sao Ngài có thể tự tin thuyết giảng trước đám đông hàng ngàn người, hoặc không ngại ngần khi bắt chuyện với một người hoàn toàn xa lạ? Ngài trả lời: “ Hãy thành thật với chính mình”.
Sự chân thành cộng với việc đánh giá đúng mức khả năng và những giá trị thực có của chính mình sẽ giúp chúng ta mạnh dạn hơn, cởi mở hơn với thế giới quanh ta. Qua đó, nếu bạn cảm thấy thiếu hụt về một lĩnh vực nào đó, bạn không nên mất tự tin, bởi vì bạn biết rằng bạn còn có những giá trị khác. Cũng giống như một đứa bé gái khi bị trêu chọc là sún răng, nó liền hỏi lại: “Còn đôi mắt con thì sao?”. Nghĩ rằng mình có đôi mắt đẹp, cô bé đó muốn được nhìn nhận ưu điểm này của nó. Nó làm điều đó một cách tự nhiên, chân thành, không mặc cảm, không sợ bị đánh giá. Nếu “chịu khó” và chân thành (nghĩa là công bằng với chính mình) trong cuộc tìm kiếm, chắc chắn mỗi người sẽ tìm thấy những giá trị riêng của chính mình.
Không những chỉ dừng lại ở việc tìm thấy và trân trọng những giá trị sẳn có của mình, con người còn có thể phát triển thêm những giá trị mới cho chính mình. Điều này cũng tương tự như việc các công ty trong quá trình phát triển giá trị thương hiệu đã không ngừng phát triển những dịch vụ cộng thêm (value adding service) cho khách hàng của mình. Ví dụ như các đại lý bán vé máy bay phát triển thêm dịch vụ giao vé tận nhà, hướng dẫn lộ trình bày, tư vấn cách chọn chuyến bay… Mỗi người chúng ta cũng vậy, ai cũng có thể tạo thêm giá trị cho “ thương hiệu” của chính mình. Những việc làm đơn giản nhưng thiết thực như thể hiện sự quan tâm với những người xung quanh, sống vui vẻ, hòa nhã với mọi người, xây dựng những mối quan hệ tốt với người thân, bạn bè…Mọi nỗ lực dù nhỏ nhoi nhưng đều mang lại những kết quả đáng kể.
Khi tạo cho mình được nhiều giá trị, làm cho “cái tôi” của mình đẹp hơn, người ta sẽ cảm thấy tự tin, cởi mở, và tìm thấy nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Hiểu được giá trị thật về cái tôi của mình, người ta có thể “là chính mình” và sống thật với mình hơn. Họ sẽ không bị môi trường chung quanh chi phối cách nhìn về “cái tôi” của họ, không mặc cảm tự ti, không dễ bị tổn thương hay “chạm tự ái” với những câu nói, hành vi và thái độ dù vô tình hay cố ý của những người khác.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc nhận thức cái tôi tích cực và cái tôi tiêu cực là rất mong manh. Cái tôi một khi bị thổi phồng thường gây ra nhiều đổ vỡ, trở ngại… vì hình như cái tôi thường hay phát triển và được phóng đại cùng với cái tài. Cho nên căn bệnh cố hữu về sự kiêu ngạo và cố chấp thường lại rơi vào những người có những thành công nhất định trong xã hội. Một người leo lên nấc thang danh vọng, địa vị càng cao, thì cái tôi mà họ vác trên vai dường như càng nặng. Vì thế, khi một người bình thường đón nhận sự bất đồng về ý kiến của người khác một cách cởi mở, thì các “sếp” có thể xem đó là “không thể chấp nhận được”. Chính cái tôi quá lớn đã giam cầm một số người trong nhà tù của sự tự mãn và kiêu căng của chính mình. Mà đã là tù nhân thì làm sao có hạnh phúc?
Vậy làm sao cởi bỏ được gánh nặng đó ra? Làm thế nào để kiểm soát được trạng thái tâm lý tự ti mặc cảm, hay ngược lại, tâm lý tự cao tự đại của mình? Làm sao để có thể vượt ra khỏi cái tôi tiêu cực, cái bản ngã nghiệp chướng của chính mình để có thể là một người tự do, được sống hồn nhiên yêu đời và hạnh phúc?
Khi chê ai đó có cái tôi quá lớn, người ta thường nói “cái tôi của hắn to bằng quả núi”, hoặc “anh ta tưởng anh ta là cái rốn của vũ trụ”, là “trung tâm của thế giới”… Như vậy, vô hình trung, chúng ta đã thừa nhận mình chì là những cá thể rất nhỏ trong một vũ trụ rộng lớn. So với vũ trụ và thế giới chung quanh, quả thật mỗi cá nhân chúng ta chỉ là những hạt nhân nhỏ bé. Nhưng hạt nhân này khi di chuyển và đụng vào nhau, giao tiếp, hỗ tương với nhau, sau đó lại di chuyển tiếp trong quỹ đạo của riêng mình trong vũ trụ.
Đã không phải là vũ trụ mà chỉ là “cái rốn” của vũ trụ, thì tại sao lại dám xem mình là cả vũ trụ? Bên cạnh đó, mỗi cá nhân là một thực thể tồn tại, phát triển, sinh ra và mất đi, có sự hình thành và cấu tạo rất riêng biệt, với những giá trị riêng trong thế giới này. Một hạt nhân tuy nhỏ bé nhưng đều có một chỗ đứng nhất định trong mối tương quan với vũ trụ và các hạt nhân khác, và không tồn tại vĩnh viễn trong một thực thể nhất định.
Cuộc đời có giới hạn, vậy thì tại sao chúng ta phải mang vác cái tôi nặng nề mà không cởi bỏ nó, để làm một người tự do, ung dung, tự tại và được là chính mình?