Monday, March 30, 2015

PHẬT DẠY BA MÓN TIỆM THỨ

PHẬT DẠY BA MÓN TIỆM THỨ
Thế nào là ba món tiệm thứ ?
Một là tu tập, trừ các trợ nhân.
Hai là chân tu, trau dồi chánh tánh.
Ba là tăng tiến, ngược dòng hiện nghiệp.

Thế nào là trừ các trợ nhân ?
Nầy A Nan ! Mười hai loại chúng sanh trong thế giới không thể tự toàn thánh thiện, cần phải nương theo bốn cách ăn mà được tồn sinh. Đó là đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Vì vậy, Như Lai nói tất cả chúng sanh nhờ ăn mà được sống còn.
Đoạn thực là ăn các thứ ngũ cốc, ngũ quả, ăn từng nắm vắt, từng miếng, từng cái, mà chúng sanh thọ dụng hàng ngày.
Xúc thực là nhờ sự tiếp xúc của căn và trần sanh ra cảm thọ vui buồn, như coi hát, xem phim… làm cho con người thấy khỏe khoắn kéo dài sự sống.
Tư thực là nhớ nghĩ những điều thích thú đã qua, hy vọng gì toại lòng sắp đến, cũng là cách giúp cho sự sống tồn sinh.
Thức thực là A lại da thức duy trì dòng sanh mệnh, làm chỗ y chỉ cho tiền thất thức.
Chúng sanh các ông đã quay về đạo vô thượng của Như Lai, thì hãy khéo léo điều hòa các cách ăn của mình, đừng để rơi vào tửu nhục bê tha, sắc thanh phóng túng, hy vọng đảo điên với một tâm hồn đen tối, trong một thể xác buông trôi trong biển đời ô trược. Hãy chủ động các cách ăn, gọi là tu tập trừ các trợ nhân. Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.
Thế nào là trau dồi chánh tánh ?
A Nan ! Hành giả muốn vào tam ma đề, trước hết phải giữ gìn giới luật cho thanh tịnh. Phải đoạn tâm dâm và tâm sát. Người tu hành không dứt tâm tham dâm hiếu sát mà mong ra khỏi ba cõi là điều không thể có. Phải giữ tứ trọng và bát khí của Thanh văn tiến lên hành trì tam tụ tịnh giới của Bồ tát. Giữ giới dâm được thanh tịnh thì cắt đứt nghiệp nhân sanh nhau, giết nhau ở thế gian. Giữ giới trộm cướp thanh tịnh thì không còn nợ trần vay trả kiếp nầy kiếp nọ trong lục thú. Thành tựu tam ma đề thì cái nhục thân cha mẹ sanh ra không cần thiên nhãn tự thấy được thế giới trong mười phương, thấy Phật, nghe pháp, chính mình vâng lãnh thánh chỉ của Phật, được đại thần thông dạo khắp thập phương thế giới… Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.
Thế nào là ngược dòng hiện nghiệp ?
A Nan ! Người giữ giới cấm thanh tịnh, tâm ý trong sáng, tam nghiệp điều thuận, không rong ruổi theo lục trần và tự biết tánh bản nguyên. Trần chẳng tương duyên thì tâm không bị dính mắc buộc ràng, đi ngược dòng hiện nghiệp trở về thể tánh tịnh minh; sáu thức trong sáng như pha lê, nhìn cõi nước trong mười phương một màu trong suốt như ngọc lưu ly toàn bích có ánh trăng tròn sáng ảnh hiện vào trong. Thân tâm hành giả, bấy giờ khinh an khoan khoái trong thể tánh nhiệm mầu và mười phương Như Lai một thời cùng hiện, hành giả chứng nhập pháp nhẫn vô sanh. Sự tu tập từ đó dần dần tăng tiến, rồi dựa trên mức độ giải thoát giác ngộ của hành giả mà an lập địa vị thánh hiền. Đó là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.

Monday, December 1, 2014

ĐIỂN TÍCH “TẢO TRỪ” “Phá ngũ uẩn rứt lần tham ái,

ĐIỂN TÍCH “TẢO TRỪ”
“Phá ngũ uẩn rứt lần tham ái,
Cột sân si cũng phải TẢO TRỪ,
Đem về giác tánh chơn như,
Kim thân thị hiện dứt trừ tử sanh”
(Cho Cò Tàu Hảo)
-Chữ “Tảo trừ” là quét dọn trừ sạch trần cấu (bụi bậm). Ở đây có ý day dùng cây chổi pháp vô hình quét sạch tham, sân, si. Vì ba món ấy là ba thứ trong ngũ uẩn, thường che đậy chân tánh và nó cũng là tam độc cội gốc phiền não: nó hay sanh ra tám vạn 4 ngàn trần lao phiền não khác. “Tảo trừ” xuất phát từ hai chữ “Tảo chửu” tức là chổi quét mà xưa kia Đức Phật đã truyền dạy ông Bàn Đặc Ca Tôn Giả.
Kinh Di Đà Sớ Sao có chép:
-Bấy giờ tại nước Xá Vệ có Thầy Tỳ Kheo, tên là Bàn Đặc. Vì tối dạ quá nên sau khi xuất gia theo Phật, ông học hoài mà không nhớ câu kinh nào hết. Phật giao cho 500 vị A la Hán, cứ thay phiên nhau, mỗi ngày hai vị, dạy ông một bài kệ bốn câu, gồm 20 chữ:
“cần tảo già lam đại,
Thời thời phước huệ sanh,
Tuy vô tân khách chí,
Diệc hữu Thánh nhơn hành”
(Siêng quét đất vườn chùa, Giờ sanh phước hụê. Tuy không tân khách đến, cũng có thánh nhơn đi)
-Suốt ba năm như vậy, ông cũng chưa thuộc câu nào. Anh của ông là Tỳ kheo Châu Lợi kêu ông quở trách: “Người ta xuất gia tu hành ai cũng thuộc một ít bài kinh để tụng niệm. Còn em đã 3 năm rồi mà học chẳng thuộc câu nào hết, tốt hơn huờn tục cho rồi”. Bàn đặc quá buồn khổ, nên đứng dựa cửa Kỳ Hoàn mà khóc! Phật trông thấy kêu hỏi:
-Vì sao ông lại khóc?
Bàn Đặc thưa:
-Bạch Đức Thế Tôn, 500 vị A La Hán chán dạy, vì con quá tối dạ, nay anh con cũng quở hãy huờn tục cho rồi. Song con nghĩ: nếu con về nhà thì làm sao hằng ngày thấy được Đức Thế Tôn để chiêm ngưỡng, con không thể xa Ngài đặng.
Phật an ủi:
-Thôi đừng khóc nữa! Hãy theo Ta về Tịnh Xá. Đến nơi Phật traocho cây chổi và dạy ông vừa quét vừa học haichữ “chổi quét” thôi! Thế nà hễ ông học nhớ được chữ quét lại quên mất chữ chổi, suôt cả mấy ngày như vậy. Đến chừng Phật quán biết ông sắp hết chướng nghiệp mới kêu lại mà khai ngộ:
-Nầy Bàn đặc! Hai chữ chổi quét nó cao cả sự lẫn lý; dùng cây chổi hữu hình quét sạch bụi rác trong Tịnh Xá và ngoài sân để trông mát khoẻ cho Ta lẫn người. Còn về lý: dùng cây chổi pháp vô hình để quét sạch trần cấu phiền não nơi tâm địa của mình, chớ có khó gì đâu mà không nhớ!
-Phật nói dứt lời, ông Bàn Đặc Ca sạch hết chướng nghiệp, hốt nhiên tỏ ngộ, chứng A La Hán và có đủ 6 phép thần thông.
-Bâý giờ bên phái Tỳ Kheo Ni có Tịnh xá riêng. Phật phân công mỗi một vị Tỳ kheo đã chứng quả A La Hán, đến đó thuyết Kinh giáo giới cho chúng Tỳ kheo Ni nghe…
-Ngày nọ, bên Tịnh Xá Tỳ kheo Ni được tin hôm nay tới phiên ông Bàn Đặc Ca đến đây giáo giới, nên quí bà quí cô đều ngơ ngác tự hỏi: “Huynh ấy tối dốt tận mạng làm sao giáo giới cho được? Hoạ chăng là Huỷnh mượn sư huynh của huỷnh thế cho.” Ai nấy còn đương bàn tán, bỗng nghe tiếng tích trượng reo ngoài cổng, mọi người nhìn ra đồng nói:
-Huỳnh thiệt, đúng rồi! Bà nào cũng xầm xì và cười khúc khích, có ý dể ngươi; nhưng vì kỷ luật bắt buộc, các tỳ Kheo ni phải ra tiếp rước và kính thỉnh ông vào ngồi trên ghế cao. Tát cả đều làm lễ dâng cơm nước, rồi ngồi có thứ tự để chờ nghe pháp, nhưng bà nào cũng lấy tay áo cà sa che miệng vì không thể nín cười được.
-Ngồi trên Pháp toà, Tỳ Kheo Bàn Đặc nghĩ thầm: “do đã lãnh hội lý được lý nghĩa hai chữ chổi quét mà Phật đã chứng truyền. Vậy các Đại Tỷ hãy để tâm yên lặng, nghe đệ giảng thử, coi có hợp với tinh thần giáo giới không?
-Thưa các Đại Tỷ! “Trong Giáo lý nhà Phật có rất nhiều phương pháp, người tu phật tuỳ theo trình độ mà học hỏi trì hành, nhưng điểm cốt yếu là làm thế nào quét sạch bụi trần, cũng như đào thảy cho hết phiền não. Nhứt là tảo thanh những chướng ngại, như: lòng tự ỷ, kiêu căng, khinh mạng….để cho ba nghiệp thân, khẩu, ý trong sạch, sáu căn thanh tịnh như gương lau sạch bụi, tức được minh tâm kiến tánh, chứng quả vô lậu. Ấy là ý nghĩa của hai chữ chổi quét…”
“vậy có thể nói cả 8 vạn 4 ngànpháp môn không ngoài ý nghĩa hai chữ “chổi quét” là vì nó có diệu năng quét sạch 8 vạn 4 trần lao phiền não. Đó các Đại tỷ xét coi có phải thế không?
-Tôn giả Bàn Đặc giảng vừa dứt, cả 5000 Tỳ Kheo Ni đều tỉnh ngộ, phủi sạch lòng khinh mạng, đủ niệm Kính thành, đồng chứng quả A La Hán một lượt.
-sau đó mấy hôm Vua Ba Tư Nặc thỉnh phật và chúng Tăng vào cung thụ trai. Phật muốn phá lòng khinh mạng của quần chúng, nên trao bình bát của Ngài cho ông Bàn Đặc mang và bỏ đi sau hết. Phật khởi hành đi trước, kế đó là 1.250 Tỳ Kheo. Khi Phật và chúng Tăng tiến vào cửa thành, tới ông bàn Đặc là người sau cùng, bị lính gát cửa cản lại không cho vào, họ chỉ trích ông:
-Chúng tôi là cư sĩ đây, dầu bận việc gia đình, quân chính, nhưng cũng học thuộc được một hai bài kinh để tụng niệm. Còn ông, đã là một Tỳ kheo xuất gia, với bài kệ chỉ có 4 câu, 20 chữ mà suốt ba năm ông không thuộc chữ nào, nên không đủ tài đức vào thụ trai của nhà Vua. Bàn Đặc Tôn Giả đành phải chịu đứng tại cửa thành chờ đợi.
-Đến giờ traiđàn, Vua bưng thức ăn định sớt vào bát của Phật trước. Ông Bàn Đặc đứng ngoài cửa thành, với cánh tay dài đưa bình bát tới ngay trước mặt Vua và Phật. Vua ngạc nhiên bạch hỏi phật:
-Phật liền giới thiệu và giải thích rõ việc cảu Bàn Đặc cho Vua cùng quần thần nghe. Vua vội sai nội quan ra thỉnh vị La Hán ấy vào. Cuộc thọ trai xong Vua quì xuống bạch hỏi Phật:
-Vì sao Tôn Giả Bàn Đặc tối dốt? Lại tu học thế mà được chứng quả như vậy?
-Phật hoan hỷ giải rõ từ tiền kiếp hiện kiếp của Tôn giả Bàn Đặc cho Vua và đại chúng nghe.
“Kiếp trước của Bàn Đặc cũng là một nhà tu, rất thông minh sáng cuốt, thuộc làu kinh điển. Chỉ vì có ý để một mình làm Thầy quần chúng, bỏn sẻn không bố thí pháp cho ai, sợ mọi người hơn mình. Bởi lỗi lẫn (tiếc) Phápđó, thành thử đời nầybị quả báo tối dốt, nhưng nhờ có lòng nhiệt tình ham tu, kinh Phật và quyết chí kiên nhẫn tu học không nản lòng, giải đãi. Nhờ đó tội chướng tiêu sạch và cuối cùng chỉ tu hcọ hai chữ “chổi quét” (Tảo chửu). Luôn ba ngày ông đã quét sạch phiền não, trí huệ phát khai, chứng quả A La Hán, đắc 6 pháp thần thông như thế đó…”
-Nghe Phật giảng xong Vua Ba Tư Nặc, quần thần và đại chúng đều hết lòng ca ngợi, kính tin đồng lễ bái Phật.
Nghe qua câu chuyên và đọc lại bốn câu giảng nêu trên, thấy rằng: xưa khi Phật dùng chữ “chổi quét” dạy ông Bàn Đặc và chư Tỳ kheo. Thời nay Đức Thầy cũng dùng hai chữ “Tảo trừ” để dạy môn đồ, đồng lý nghĩa quét dọn và trừ sạch trần ai phiền não, nơi tâm tư của mỗi hành giả. Bởi vì ba món phiền não căn bản (tham , ân, si) ấy là gốc sanh ra 8 vạn 4 ngàn trần lao phiền não khác. Nếu nàh tu biết áp dụng phương cách “chổi quét” hoặc “Tảo trừ” để dọn sạch tham, sân, si tất 8 vạn 4 ngàn trần lao phiền não kia phải tiêu vong. Bấy giờ tâm trí của nhà tu được trong sạch sáng mầu hoà vào giác tánh chơn như (Phật hoá tánh tình) chứng kim thân bất hoại!
“Đem về giác tánh chơn như,
Kim thân thị hiện dứt trừ tử sanh”
(trích điển Tích Triết Văn)

Tuesday, November 25, 2014

CA NGỢI NGÀI XÁ LỢI PHẤT - MỘT BẬC THÁNH VĨ ĐẠI - SƯ PHỤ THÍCH CHÂN QUANG

CA NGỢI NGÀI XÁ LỢI PHẤT - MỘT BẬC THÁNH VĨ ĐẠI - SƯ PHỤ THÍCH CHÂN QUANG (Theo trang Facebook Đệ tử ái mộ TT. Thích Chân Quang) (1)
"Như đất không hiềm hận
Như trụ đá kiên trì
Như hồ trong thanh tịnh
Như bậc Thánh bay cao
Kính bạch Thế Tôn, lúc nào con cũng xem mình như là đất, đất bình an hoan hỉ khi được người giẫm đạp đi lên. Con cũng vậy,con xin được bình an hoan hỷ, khi có người xem thường, giẫm đạp.
Đất sẽ rộng lòng đón nhận những rác rưởi bẩn thỉu mà người vứt bỏ lên, con cũng xin được rộng lòng đón nhận những ý nghĩ xấu cho con hay những lời nhục mạ nặng nề.
Bạch Đức Thế Tôn, cũng như đất chịu sự cày xới để mọc lên những vườn cây trái ngọt hay ruộng lúa thơm ngon. Con cũng xin chịu đựng sự tổn thương để vững bước mang cho đời những niềm vui hạnh phúc.
Bạch Thế Tôn, cũng như đất nâng niu cuộc sống mọi loài trên đất,con cũng xin tôn trọng đỡ đần bất cứ ai cần đến con trong cuộc sống này.
Bạch Thế Tôn,con xem mình như thanh niên Chiên đà la,làm những việc hèn mọn nhất trong đời là đổ rác hay gánh phân,vui vẻ chịu người sai bảo. Con cũng vui vẻ làm những việc hèn mọn nhất để làm vui lòng mọi người.
Bạch Thế Tôn, con xem mình như cái giẻ lau, xóa đi dơ bẩn của đời,và nhận lấy sự dơ bẩn đó về mình. Con cũng xin nhận lấy mọi điều xấu xa bẩn thỉu, để cho đời được thơm sạch mát lành.
Bạch Thế Tôn, con xem mình như nước để rửa sạch cho đời rồi phần mình chảy ra cống rãnh, con xin được phụng sự cho đời,rồi phần mình trôi vào quên lãng mà thôi.
Bạch Thế Tôn, con xem mình như củi lửa,thắp lên ánh sáng và đun nấu thức ăn giúp ích cho đời,rồi phần mình xin trở về tro bui bay xa.
Bạch Thế Tôn,con xem mình như gió,thổi mát lòng người những buổi trưa hè đem đến cho đời những cơn mưa phơi phới,rồi phần mình tan vào cõi vắng hư vô.
Bạch Thế Tôn, con xem thân này là vô thường,ngày nào thành đất bụi bên đường, từng ngày sống là sự đòi hỏi của ăn uống,thở và đủ mọi thứ cung phụng vất vả.
Bạch Thế Tôn, với suy nghĩ như vậy, lòng con không hề xem thường hay có ác ý với ai, với bất cứ chúng sinh nào, lòng con chỉ có tình thương tràn ngập đến muôn loài, mong cho vạn loài thương yêu nhau và tu theo thánh đạo giải thoát.." (2)
(1): Đây là những lời nói của một bậc A La Hán vĩ đại - Ngài Xá Lợi Phất được Sư Phụ Thích Chân Quang dẫn lại.
(2) Xin quý Phật tử chú ý, những lời nói từ bi, vị tha, đẹp đẽ này chỉ là một phần rất nhỏ trong những lời tâm sự của Ngài Xá Lợi Phất trước hội chúng tăng đoàn thời đó. Cầu chúc cho tất cả quý Phật tử làm được những công hạnh tuyệt vời, tu hành tinh tấn trở thành một vị Thánh cao siêu như Tôn giả Xá Lợi Phất.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật"

LÀM THẾ NÀO HÀNG PHỤC TÂM (tựa admin tạm đặt)

KINH CIM CANG P3 -ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG
LÀM THẾ NÀO HÀNG PHỤC TÂM (tựa admin tạm đặt)
Phật bảo Tu-bồ-đề : Các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia. Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào vô dư Niết-bàn mà được diệt độ đó. Diệt độ như thế vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt độ. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát.
GIẢNG :
- Chín loài chúng sanh chỉ trùm tất cả chúng sanh.
- Niết-bàn nghĩa là vô sanh. Niết-bàn có hữu dư y Niết-bàn và vô dư y Niết-bàn. Những vị chứng quả A-la-hán, được vô sanh nhưng còn thân hình tướng thì gọi là hữu dư Niết-bàn; được Niết-bàn sau khi xả thân nghĩa là được vô sanh sau khi không còn thân tướng thì gọi là vô dư Niết-bàn.
- Bốn tướng:
Tướng ngã: Thấy có mình thật.
Tướng nhân: Thấy có người thật.
Tướng chúng sanh: Thấy tất cả loài có thật.
Tướng thọ giả: Thấy có mạng sống tiếp nối trong một thời gian.
Đây là đến phần Phật trả lời hai câu hỏi trước của ngài Tu-bồ-đề. Câu hỏi đầu là an trụ tâm, câu hỏi thứ hai là hàng phục tâm, nhưng khi trả lời đức Phật đổi lại trả lời câu hỏi hàng phục tâm trước và câu hỏi an trụ tâm sau. Trong đoạn này Phật dạy cách hàng phục tâm tức chỉ phương pháp tu hành. Đức Phật dạy: Đối với tất cả loài chúng sanh ta đều đưa họ vào chỗ Niết-bàn không còn hình tướng để họ được diệt độ. Diệt độ như thế không biết bao nhiêu chúng sanh mà thật không có một chúng sanh nào được diệt độ. Đó là hàng phục được tâm, quí vị làm được điều đó không? Phật lại bảo tiếp: Tại sao thế? Vì nếu Bồ-tát còn một tướng ngã hay tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì không phải là Bồ-tát.
Phật trả lời khó hiểu quá, thấy như lạc đề. Đây là chỗ chính yếu nhưng vừa mở đầu chúng ta thấy ngỡ ngàng, chúng ta mong Phật trả lời làm sao hàng phục tâm mà đức Phật trả lời như thế này thì làm sao hàng phục tâm được. Tôi không nói loài sanh bằng trứng, những loài sanh chỗ ẩm ướt, những loài sanh do biến hóa, những loài có sắc, không sắc v.v. mà chỉ nói những loài thai sanh và trong loài sanh bằng thai, tôi hạn chế trong loài người thôi. Chừng nào chúng ta độ tất cả loài người vào vô dư Niết-bàn mà không thấy họ được diệt độ, chừng đó chúng ta mới hàng phục được tâm. Vậy chừng nào chúng ta làm được việc đó? Nếu như không làm được việc đó thì hàng phục tâm không được. Tại sao hỏi hàng phục tâm mà Phật dạy độ chúng sanh ở ngoài? Đó là điều khó, từ xưa đến giờ chính khi chúng tôi học, đến chỗ này chúng tôi cũng lắc đầu, điều Phật dạy rất khó áp dụng trong việc tu hành. Nếu chúng ta hiểu theo lời theo chữ thì sẽ có hai điểm không thể thực hiện được. Điểm thứ nhất là chúng ta thấy Phật chưa thành Phật. Tại sao? Vì khi đức Phật thành Phật, thử hỏi tất cả người - chỉ nói là người thôi - ở Ấn Độ, Phật đã độ được vào vô dư Niết-bàn hết chưa? Chúng ta thấy rõ rằng lúc đó còn ngoại đạo rất nhiều, Ngài chỉ độ một số mấy ngàn vị thôi chớ đâu phải tất cả, vậy tại sao Ngài được thành Phật? Nếu hàng phục tâm chưa được thì làm sao thành Phật? Điểm thứ hai là Phật dạy chúng ta làm một việc mà không bao giờ chúng ta làm nổi. Thử hỏi tất cả quí vị cũng như chúng tôi, ai đã được vô dư Niết-bàn? Thế mà chúng ta phải đưa tất cả chúng sanh vào vô dư Niết-bàn, chừng đó mình mới hàng phục được tâm. Vậy đến bao giờ chúng ta mới làm được việc đó? Chỗ mình chưa đạt tới mà Phật bảo mình độ người đạt được chỗ đó, làm sao chúng ta làm được? Cũng như chúng ta còn dốt mà bảo dạy tất cả người đậu tiến sĩ hết, chừng đó mới được làm quan thì thật là vô lý. Thế nên nếu học kinh Phật, nhất là kinh Đại thừa, mà hiểu theo chữ, theo lời thì không làm sao giải thích được.
Điểm thứ nhất ta thấy mâu thuẫn với Phật, điểm thứ hai mâu thuẫn với chúng ta, như thế làm sao có thể áp dụng trong việc tu hành? Nhưng đến sau này khi tu thiền và đọc sách thiền rồi, chúng tôi mới giật mình, không ngờ mình không hiểu lời Phật nói. Kinh nói trong chúng ta có đủ cả thập pháp giới, đó là tứ thánh và lục phàm. Quí vị thấy có khi chúng ta phát lòng từ bi giống như Phật, như Bồ-tát, có khi chúng ta xấu xa như con heo, con bò, có khi chúng ta hung dữ như con cọp, con sói. Trong chúng ta có đủ trăm thứ nghĩ, tốt xấu lẫn lộn. Thế nên mỗi một dấy niệm về người thì đó là một chúng sanh thai sanh, một dấy niệm về chim chóc thì đó là chúng sanh noãn sanh, một dấy niệm về con bướm, con ong thì đó là hóa sanh, một dấy niệm về con đom đóm đó là thấp sanh, nghĩ đến hư không đó là chúng sanh vô sắc, dấy niệm về con người có tưởng, đó là chúng sanh có tưởng, dấy niệm buông hết vọng tưởng, buông hết cảnhững tâm tưởng đó là chúng sanh vô tưởng. dấy niệm là sanh. Tại sao? Bởi vì khi lặng thì không có niệm, mà niệm dấy lên là do duyên với cảnh hoặc người, hoặc vật. Vọng thức bên trong duyên theo bóng dáng của vọng trần, cả hai phối hợp nhau mà sanh nên gọi là chúng sanh. Mỗi một niệm dấy lên như vậy là một chúng sanh. Những chúng sanh do niệm vừa dấy lên đó chúng ta liền độ vào vô dư Niết-bàn. Làm sao độ? Chúng sanh đó dấy lên, ta biết chúng sanh này giả tức nhiên nó lặng xuống chỗ không sanh và khi nó lặng xuống không còn thấy tăm dạng nên gọi là vô dư Niết-bàn. Như thế chúng ta thấy đức Phật độ hết chúng sanh, Ngài hàng phục được tâm, Ngài thành Phật. Như thế mới có lý, mới đúng sự thật.
Cũng thế nếu những vọng tưởng của chúng ta đang điên cuồng chạy ngược, chạy xuôi theo có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng. theo tất cả hình tướng bên ngoài, bây giờ chúng ta đưa nó vào vô dư Niết-bàn,vào chỗlặng lẽ không sanh diệt, tâm chúng ta không còn loạn nữa, đó là chúng ta hàng phục được tâm. Hiểu như vậy chúng ta mới tu được. Như thế chúng ta mới thấy rõ đức Phật thành Phật trong khi tất cả chúng sanh vẫn còn. Ngài hàng phục được tâm của Ngài nên mới được đến chỗ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như bây giờ chúng ta vừa phát tâm tu thì chúng ta cũng hàng phục như vậy, lần lần tâm an định chúng ta mới tiến bộ được. Nếu cứ lo độ chúng sanh ở ngoài trong khi chính mình chưa độ được mình thì độ được ai?
Hiểu như vậy rồi chúng ta thấy kinh Phật rất cao siêu, lời lẽ diễn tả những hình ảnh mà chúng ta không hiểu là những hình ảnh đó quy về mình rồi chúng ta cứ tưởng là việc bên ngoài. Khi chúng ta tưởng như thế chúng ta sẽ thối chí không biết làm sao thực hành. Thế nên ngày xưa chính tôi đã từng nói rằng: Kinh Đại thừa chắc chỉ để trên gác thờ, không thể áp dụng trong việc tu hành, nhưng nay chúng ta hiểu rõ rồi, mới thấy chính đoạn này trả lời rất sát câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề. Ngài Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phục được tâm? Phật dạy: Một niệm dấy lên là một chúng sanh, đưa những niệm đó vào chỗ vô sanh là hàng phục tâm. Đây là tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ. Rõ ràng là Phật trả lời việc hàng phục tâm. Nếu nói độ tất cả chúng sanh thì ta thấy như là người hỏi việc bên trong mà Phật trả lời việc bên ngoài, không dính dáng gì với nhau. Nhưng ở đây, chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa độ tất cả chúng sanh, đó là đưa tất cả niệm vào chỗ không còn sanh diệt. Khi nào thực hành quí vị mới thấy rõ. Một niệm dấy lên nghĩ về người, chúng ta liền nói niệm đó giả dối không thật, không theo. Khi biết nó giả, ta không theo thì nó lặng xuống, lặng xuống chỗ không còn thấy tướng mạo, đó là vô dư Niết-bàn. Không sanh là Niết-bàn, không còn tướng mạo là vô dư . Bao nhiêu niệm đều đưa vào đó nên nói độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được diệt độ, nghĩa là đưa tất cả vào đó hết mà không còn thấy có một người nào hay một niệm nào thật. Quí vị thấy thật là khó, khó ngay ở buổi đầu.
Thế nên Phật nói tiếp: Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề!Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thì không phải là Bồ-tát. Tại sao vậy? Bởi vì một niệm dấy lên tức là có chấp ngã trong đó. Quí vị nhớ từ cái chấp ngã của Đại thừa đi lần đến chấp ngã sâu kín vi tế của Thiền tông. Hai cái tương ưng nhau. Chấp ngã của Đại thừa là chấp thân làm ngã và chấp tâm làm ngã. Từ cái chấp thân, tâm làm ngã đến niệm dấy lên chấp niệm đó là mình, đó cũng là chấp ngã. Niệm dấy lên cho là mình nghĩ, đó là chấp ngã. Tại sao? Dấy niệm là suy nghĩ về người, suy nghĩ về cảnh, thử hỏi ai nghĩ, ai nghĩ về người, ai nghĩ về cảnh? Thô thì chấp thân này, tế thì chấp một niệm, vì vậy còn thấy một niệm thật là còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả; nếu đưa hết những niệm vào vô dư Niết-bàn rồi thì đâu còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Người làm được như vậy, đức Phật nói: Đó là Bồ-tát độ chúng sanh.
Quí vị thấy mỗi ngày chúng ta ngồi ở tảng đá chơi, hoặc ngồi ở trước hành lang nhà, hoặc ngồi trong vườn, nếu chúng ta cứ lo độ chúng sanh như vậy, nghĩa là mỗi chúng sanh dấy lên chúng ta đưa vào vô dư Niết-bàn, đó cũng là Bồ-tát độ chúng sanh rồi. Tại sao gọi là Bồ-tát? Vì Bồ-tát là một chúng hữu tình giác ngộ và đem sở giác của mình giáo hóa kẻ khác, tức là tự giác và giác tha. Niệm dấy lên chúng ta biết nó là hư giả, đó là giác; giác rồi đưa nó vào chỗ vô sanh, đó là độ chúng sanh. Như vậy quí vị thấy giờ nào mà không độ chúng sanh? Chúng ta độ chúng sanh đó thì sẽ đi đến chỗ an trụ Niết-bàn. Tóm lại đức Phật chủ yếu dạy chúng ta đối với tất cả niệm khởi về người về vật v.v. muôn ngàn hình tướng đều cho lặng xuống hết, lặng vào chỗ không còn sanh diệt, khi đó là hàng phục tâm. Tâm chúng ta không còn loạn động nữa, mà hết loạn động tức là chúng ta hàng phục được tâm thuần thục. Như thế câu trả lời rất là xác đáng. Và như vậy mới hết tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Hiện giờ có nhiều người không hiểu, cho thân này là ngã nên bảo: "Thôi tôi xả thân, tôi không nghĩ gì đến tôi hết, tôi bố thí tất cả thức ăn, thức mặc, cái gì tôi cũng không kể", nhưng niệm của họ vẫn còn khởi thì cái xả đó vẫn chưa sạch. Tỉ dụ cứ nghĩ ta là người bố thí, ta là người nhẫn nhục tức là còn ngã chớ gì? Cho nên còn một niệmlà còn ngã, cái ngã tế nhị như vậy. Thành ra có nhiều người làm việc coi như xả ngã mà chính là nuôi cái ngã thêm to, đó là cái ngã vọng tưởng ở tâm. Thế nên khi hiểu rồi quí vị mới thấy ở đây đức Phật bảo: Độ tất cả chúng sanh mà không thấy có một chúng sanh nào được diệt độ. Tại sao? Vì nếu Bồ-tát còn bốn tướng đó không phải là Bồ-tát. Còn bốn tướng là còn dấy niệm thấy có mình tức có ngã, mà có ngã tức là có nhân, có chúng sanh, có thọ giả. Có dấy niệm mới chấp, mới nghĩ ta phải người quấy, mới thấy ta hay người dở v.v.nếu không dấy niệm thì chấp cái gì? Đó là chỗ cứu kính trong việc tu hành. Hiểu được rồi chúng ta thấy rõ ràng vừa bước vào đoạn thứ nhất là đã biết được phương pháp tu hành.
 https://www.facebook.com/baihoc.nhathien/posts/809736832418389:0

Monday, June 16, 2014

10 bước đơn giản để trở thành người ăn chay

Mỗi người có một lí do để đến với việc ăn chay. Tuy nhiên, thời gian đầu sẽ là khá khó khăn cho những ai đã quen và yêu thích việc ăn mặn từ trước. Dưới đây mình xin giới thiệu 10 bước để bạn có thể thực hiện chuyển hóa từ việc ăn thịt sang ăn chay trường một cách đơn giản nhất.
người ăn chay
1.      Đọc
Nghiên cứu, tìm hiểu, đọc thật nhiều sách và các nghiên cứu khoa học liên quan đến việc ăn chay. Bạn sẽ thấy ăn chay có tác dụng kì diệu như thế nào và tạo nên những kiến thức cần thiết để bạn kiên trì trên con đường ăn chay của mình. Kiến thức chính là sức mạnh.
2.      Suy nghĩ
Bạn hãy dành thời gian suy nghĩ về các loài động vật, suy nghĩ về cơ thể chúng ta, về Trái Đất rằng việc lựa chọn thức ăn của mình tác động thế nào tới con người và thế giới. Không cần đưa ra quyết định nào cả, chỉ cần bạn cho phép bản thân có thời gian suy nghĩ.
suy nghĩ
3.      Nói chuyện
Khi chưa hiểu hết về việc ăn chay, bạn có thể nói chuyện với những người ăn chay và cả những người ăn mặn. Sau đó, hãy đặt ra các câu hỏi cho mình và cho mọi người, chia sẻ suy nghĩ, gặp gỡ nhiều hơn với những người ăn chay. Cuối cùng là suy nghĩ nhiều hơn nữa về việc thay đổi chế độ ăn của mình.
4.      Đặt ra mục tiêu
Bạn có thể tạo một trò chơi nho nhỏ, chẳng hạn như cá cược với bạn của bạn về việc cả tháng trời bạn sẽ không động đến một miếng thịt nào cả. Nếu bạn đặt các mục tiêu mang tính hài hước một chút, thì bạn sẽ đón nhận việc ăn chay dễ dàng hơn.
5.      Nấu ăn
Việc học nấu các món ăn theo cách mới rất thú vị. Bạn có thể ra hiệu sách và chọn một quyển sách dạy nấu món chay. Thử các công thức nấu ăn mới. Cho phép bản thân sáng tạo và hào hứng với nó. Như vậy, những món ăn không có thịt không chỉ dễ dàng chế biến được mà còn không có giới hạn nào cả với sáng tạo của bạn.
nấu ăn chay
6.      Ăn
Cách chúng ta ăn ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và cách cảm nhận thức ăn của chúng ta. Bạn hãy thực hiện cách ăn mới. Khi ăn, bạn cần nhai kỹ, thưởng thức từng miếng, thật chậm, cảm nhận vị giác và xem bạn thấy thế nào khi trải nghiệm các món ăn theo cách này nhé!
7.      Lắng nghe
Cố gắng nhận biết những nhu cầu của cơ thể mình là điều quan trọng để bạn biết mình thực sự cần gì và thấy như thế nào. Hãy ngủ khi bạn mệt. Ăn khi bạn đói. Cảm nhận những thức ăn nào là tốt hay không tốt cho cơ thể bạn. Chú ý xem các loại thức ăn tiêu hao năng lượng, cảm xúc, tâm trạng, sự tập trung của bạn như thế nào. Bạn cần tôn trọng cơ thể mình và học cách kết nối giữa những gì bạn đưa vào cơ thể mình với những gì bạn giải phóng.
lắng nghe
8.      Trải nghiệm
Cuộc đời có rất nhiều thứ hay ho để học, bạn hãy thử thay đổi một lối sống khác như thể “một người ăn chay” như uống nhiều hơn các loại nước ép hoa quả, tìm hiểu các chế độ ăn giúp sống lâu hơn, chơi một môn thể thao mới, tập yoga, học một ngôn ngữ mới… Hãy làm bất kỳ điều gì bạn cảm thấy hứng thú và cảm nhận sự khác biệt trong vị trí một người ăn chay là như thế nào nhé!
9.      Chuẩn bị tinh thần
Bạn có thể gặp rào cản từ phía gia đình và bạn bè. Đây là điều mà Chap đã gặp phải rất nhiều lần khi bắt đầu ăn chay và ngay cả cho đến giờ nữa. Kinh nghiệm là bạn phải sẵn sàng cho điều đó và tin vào bản thân mình. Bạn cũng cần chuẩn bị cho sự tự ti của chính bạn bởi có lúc bạn sẽ tự hỏi: “Tôi ăn như vậy liệu có đủ chất? Những điều tôi đang làm có đúng không?” Đây là điều bình thường vì đôi khi con người ta vẫn “lạc lối” vậy :D. Bạn hãy thư giãn, nói chuyện với những người ủng hộ bạn, đọc lại các cuốn sách về ăn chay và xem lại bản thân còn vướng mắc ở đâu để tìm cách điều chỉnh.
10.  Kỉ niệm ngày ăn chay
Bạn hãy đánh dấu trên lịch thời gian bạn ngừng ăn thịt và kỉ niệm ngày đó bằng cách tự tặng bản thân một món quà. Đây là cách giúp bạn cảm thấy hứng thú hơn với việc ăn chay của mình. Song, lưu ý nhé, ăn chay là một quá trình liên tục và đây mới chỉ là bắt đầu. Hãy ăn chay bằng cả trái tim mình <3.
vegetable-love1
_Chap_

Sunday, December 29, 2013

Bốn loại thức ăn

KINH TỨ PHẦN NHỤC 

 Bốn loại thức ăn 

Loại thức ăn thứ nhất là đoàn thực, tức là những thức ăn đi vào miệng của chúng ta. Chánh kiến cũng là biết phân biệt những đoàn thực có hại và những đoàn thực không có hại. Chúng ta phải biết những thức ăn và thức uống nào gây tàn phá và làm mất sự điều hòa trong cơ thể. Khi chúng ta ăn những món hiền lành và bố dưỡng thì chúng ta cũng biết. Ðó gọi là chánh kiến. Ta thực tập chánh kiến ngay trong đời sống hằng ngày, trên bàn ăn và trong khi nấu ăn, chứ không phải chỉ thực tập trong thiền đường mà thôi. Trước khi ăn chúng ta nói: "chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh", đó là chánh kiến áp dụng khi ăn và khi nấu ăn. Nói về đoàn thực, Bụt đã dùng hình ảnh của hai vợ chồng nhà kia ăn thịt con. Hai vợ chồng này mang đưá con trai duy nhất đi qua sa mạc. Họ nghĩ rằng số lương thực đem theo là đủ dùng cho chuyến đi. Nhưng chưa ra khỏi sa mạc họ đã hết thực phẩm. Hai vợ chồng biết rằng cả ba người sẽ chết đói. Cuối cùng họ phải đành tâm ăn thịt đứa con để sống mà ra khỏi sa mạc. Họ vừa ăn thịt con vừa khóc. Bụt hỏi rằng: "Này các thầy, khi hai vợ chồng đó ăn thịt đứa con thì họ có thấy thích thú gì không?" Các thầy thưa: "Bạch đức Thế Tôn, làm sao thích thú được khi biết mình đang ăn thịt con." Bụt dạy: " Trong đời sống hằng ngày, trong khi tiêu thụ, chúng ta cũng phải biết thức ăn của mình đã có thể được tạo ra bằng sự đau khổ cùng cực của kẻ khác, của những loài sinh vật khác." "Hai tay nâng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần." Ăn không có chánh niệm, ta tạo khổ đau cho mọi loài và khổ đau cho chính bản thân ta. Khi ta hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều thức béo vào, là ta đang ăn bộ phổi của ta, đang ăn buồng gan, trái tim của ta, ta tự đang ăn thịt ta. Nếu là cha, là mẹ thì lúc đó ta đang ăn thịt con ta tại vì các con cần có cha mẹ mạnh khỏe, tươi vui. Và nếu cha mẹ trong khi ăn uống mà tàn hại thân thể của chính mình thì chính cha mẹ đang giết con. Thành ra ăn như thế nào để đừng tạo ra những khổ đau cho các loài và đừng tạo khổ đau cho chính mình, đó là chánh niệm và chánh kiến. Ðạo Bụt trong cả Nam Tông và Bắc Tông đều tin rằng chúng sanh từ đời này sang đời khác thay phiên lần lượt làm cha làm mẹ của nhau. Vì vậy mỗi khi ăn thịt, chúng ta hãy có ý thức rằng có thể ta đang ăn thịt cha mẹ hay con cái của ta. Do đó chúng ta đã tập ăn chay và tập không sát sanh. Loại thức ăn thứ hai là xúc thực. Chúng ta có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chúng tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Ta phải thấy rằng việc tiếp xúc đó có đem chất độc vào người hay không. Ví dụ như khi ta xem truyền hình, mắt ta tiếp xúc với hình sắc. Phải thực tập chánh kiến xem chương trình truyền hình kia có đưa vào trong tâm ta những độc tố như sợ hãi, căm thù và bạo động hay không. Có những phim mang lại cho lòng ta sự hiểu biết, lòng từ bi, chí quyết tâm muốn giúp người, quyết tâm không làm những điều lầm lỗi. Ta biết ta có thể xem phim đó. Ấy là ta thực tập chánh kiến. Người lớn cũng như trẻ em, trong khi xem phim, phải biết thực tập chánh kiến. Phải biết rằng có những chương trình truyền hình chứa đựng rất nhiều độc tố như bạo động, căm thù và dục vọng. Ngay cả những phim quảng cáo cũng khơi động thèm khát, dục vọng hay sợ hãi của người ta. Khi xem một tờ báo không có chánh niệm, chúng ta có thể tiếp nhận rất nhiều độc tố. Ðọc xong ta có thể mệt nhoài vì những điều ta đọc có thể khiến chúng ta chán nản, lo lắng và ghê sợ. Chính những câu chuyện hàng ngày cũng có thể mang nhiều độc tố. Ðó là xúc thực. Chánh kiến phát sinh ra chánh niệm và chánh niệm cũng làm phát sinh chánh kiến. Tôi biết rằng nhìn, nghe và tiếp xúc với những gì thì thân tâm tôi sẽ khỏe khoắn, nhẹ nhàng và an lạc và tôi quyết định mỗi ngày tiếp xúc với những chất liệu đó. Còn nhữõng thứ làm tôi mệt, tôi buồn, tôi lo, tôi giận thì tôi sẽ tránh không tiếp xúc. Ðó là chánh niệm về xúc thực, có được nhờ chánh kiến về xúc thực. Bụt dạy rằng con người rất dễ bị thương tích, trên cơ thể cũng như trên tâm hồn. Bụt đã dùng hình ảnh một con bò bị lột da dẫn xuống sông. Dưới sông có hàng vạn loài sinh vật li ti bu lại hút máu và rỉa thịt con bò. Và khi ta đưa con bò tới đứng gần một bức tường hay một cây cổ thụ, cũng có những sinh vật li ti sống trên bức tường và trong cây cổ thụ bay ra, bám vào con bò để hút máu. Nếu chúng ta không giữ gìn thân và tâm bằng chánh kiến và chánh niệm thì các độc tố trong cuộc đời cũng bám lại và tàn phá thân tâm ta. Năm giới mà chúng ta tiếp nhận và hành trì là bộ da bao bọc thân thể và tâm hồn ra. Nếu không hành trì năm giới là chúng ta không thực tập chánh kiến. Và trong mỗi chúng ta vốn đã có hạt giống của chánh niệm. Thực tập chánh niệm cũng như tạo ra những kháng thể để chống lại sự thâm nhập của các độc tố kia. Loại thức ăn thứ ba là tư niệm thực. Ðó là những nỗi ước ao ta muốn thực hiện cho đời ta. Mong muốn làm giám đốc một hãng buôn lớn, hay mong muốn đậu bằng tiến sĩ, những mong muốn như thế thâm nhập vào người ta giống như một thức ăn. Mong muốn là một loại thực phẩm gọi là tư niệm thực. Ước muốn mạnh sẽ giúp ta năng lượng để thực hiện hoài bão. Nhưng có những loại tư niệm thực làm cho ta khổ đau suốt đời. Như danh, lợi, tài và sắc. Muốn được mạnh khỏe và tươi vui, muốn được giúp đở cho gia đình và xã hội, muốn bảo vệ thiên nhiên, tu tập để chuyển hóa, để thành một bậc giác ngộ độ thoát cho đời.vv.. thì đó là loại tư niệm thực có thể đưa tới an lạc, hạnh phúc. Về tư niệm thực, Bụt kể chuyện một người bị hai lực sĩ khiêng người kia ném xuống hầm lửa đang bốc cháy. Bụt nói rằng khi ta bị những tư niệm thực bất thiện chiếm cứ, bị danh, lợi, tài và sắc lôi cuốn thì cũng như ta bị những anh chàng lực sĩ kéo đi liệng xuống hầm lửa. So đó người tu học phải có chánh kiến, phải nhận diện được tư niệm thực trong ta là loại nào. Loại thức ăn thứ tư là thức thực. Chúng ta là sự biểu hiện của thức, gồm có y báo và chánh báo. Chánh báo là con người gồm năm uẩn của ta và y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta. Vì hành động từ nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có chánh báo này, với y báo này. Chánh báo và y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức. Khi làm công việc nhận thức, tâm cũng giống như cơ thể đón nhận các món ăn. Nếu trong quá khứ tâm thức ta đã tiếp nhận những thức ăn độc hại, thì nay tâm thức ta biểu hiện ra y báo và chánh báo không lành. Những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy tư, tưởng tượng,tất cả những thứ ấy đều như muôn sông chảy về biển tâm thức. Và những vô minh, hận thù và buồn khổ của ta đều trở về biển cả của tâm thức ta. Vì vậy ta phải biết mỗi ngày chúng ta nhận vào tâm thức của ta những món ăn nào. Chúng ta cho nó ăn từ, bi, hỷ, xả hay là chúng ta cho nó ăn trạo cử, hôn trầm, giãi đãi, phóng dật? Về thức thực, Bụt đã dùng hình ảnh một người tử tù và ông vua. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 lưởi dao cắm vào thân thể của một tử tội. Tới buổi chiều vua hỏi: " Người tù đó bây giờ sao?" - "Tâu bệ hạ, nó còn sống." - "Vậy thì đem hó ra, lấy 300 lưỡi dao đâm qua người nó một lần nữa." Và buổi tối, vua hỏi: " Kẻ đó bây giờ ra sao?" - " Còn sống." - " Hãy lấy 300 mũi dao đâm qua thân thể nó một lần nữa!" Bụt dùng ví dụ đó để nói chúng ta cũng đang hành hạ tâm thức của ta y như thế. Mỗi ngày chúng ta đâm 300 mũi dao của độc tố vào trong tâm thức ta. Những mũi dao của tham lam, giận dữ, ganh tỵ, hờn giận, thù oán, vô minh. Bốn ví dụ kể trên được chép trong Kinh Tử Nhục. Tử Nhục là thịt của đứa con. Bốn ví dụ nghe rất ghê sợ, có tác dụng răn bảo chúng ta phải tỉnh táo giữ gìn chánh kiến. Thích Nhất Hạnh(MH ST )

Wednesday, October 30, 2013

Lời dạy quý báu của Hòa thượng Trí Thủ khi người thân sắp lâm chung

Lời dạy quý báu của Hòa thượng Trí Thủ khi người thân sắp lâm chung

Trong sự chuyển tiếp từ kiếp nọ sang kiếp kia, cái niệm sau cùng có một năng lượng mãnh liệt quyết định cho việc chuyển sinh. Vì lý do đó nên lúc lâm chung người tu hành phải làm thế nào để chỉ còn nhớ Phật, niệm Phật thì chắc chắn sẽ sanh về cõi Phật.
Kinh Phật thuyết A Di Đà dạy rằng: “Nếu người nào niệm Phật trong bảy ngày được nhất tâm bất loạn, lúc lâm chung có Phật và thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy, tâm không còn điên đảo và liền được vãng sanh”. Nhất tâm bất loạn nghĩa là ngoài sự nhớ Phật, tưởng Phật không có một niệm nào xen lẫn ở trong lòng, lòng mình và lòng Phật đã xứng hợp là một. Kinh văn đã dạy rõ ràng như thế, đương  nhiên tuyệt đối chúng ta phải tin. Có e ngại chăng là e ngại tịnh nghiệp tu chưa tinh tấn nên phút lâm chung tâm còn điên đảo khiến khó thấy được Phật tiếp dẫn. Tâm còn điên đảo thì cũng khó mà vãng sanh. Vì vậy trong khi lâm chung rất cần có người hai bên trợ niệm, có kẻ trợ niệm mới dẫn phát được tâm người bệnh niệm Phật, lý do cần thiết lập các ban hộ niệm là thế.
Hiện tại ở các chùa đều có thiết lập ban hô niệm. Bất luận trai gái già trẻ, là Phật tử, ai ai cũng nên gia nhập vào ban ấy càng đông càng tốt. hễ khi nào gặp một bệnh nhân lâm nguy, trong ban nên cắt phiên thay nhau đến nơi phòng người bệnh, đốt hương niệm Phật. Như vậy, mắt trông thấy tượng Phật, tai nghe tiếng niệm Phật, mũi ngửi mùi hương thơm từ bàn Phật xong ra, người bệnh có đủ duyên sinh khởi tịnh niệm, rất hữu ích cho sự vãng sanh tịnh độ.
Nay xin đem những biện pháp của người tu hành cần gìn giữ trong phút lâm chung, sơ lượt giải bày như sau để các ban hộ niệm y cứ hành trì.  Mong rằng các đạo hữu lưu ý, công đức sẽ vô lượng, vì nó quyết định cho tương lai của cả một đời tu hành.
A. Lúc bệnh nặng sắp lâm chung

Khi có một Phật tử bệnh nặng sắp lâm chung, thân thuộc nên tin cho ban hộ niệm và mời đến nhà hộ niệm. Nếu tinh thần người bệnh còn tỉnh táo, ban hộ niệm nên nhất thiết khuyên thân thuộc đừng khóc lóc và cũng đừng đem việc nhà ra nói với người bệnh làm gì nữa. Khóc lóc hay hỏi về việc nhà lúc ấy không giải quyết được gì hết mà chỉ khiến cho người bệnh sinh khởi niệm luyến tiếc việc đời một cách vô ích.
Nếu khuyến khích bệnh nhân đem tâm phóng xã tất cả, chỉ nhớ Phật và niệm Phật mà thôi nên nói với bệnh nhân rằng: “Thế giới cực lạc rất là an vui sung sướng. Nay ngươi nên xã bỏ tất cả, nguyện sanh về thế giới kia. Được sanh về đấy sẽ không còn có hạnh phúc nào bằng, hiện tại sở dĩ bệnh hoạn đau đớn là do ác nghiếp nhiều kiếp tích lũy gây nên. Tạm thời nên chịu khó nhẫn nại”.
 
Nếu thảng hoặc bệnh nhân có việc gì khổ tâm lắm, nhất đáng không thể xã bỏ được, nên tìm mọi phương tiện thuyết pháp giải trừ. Hoặc dùng lời diệu ngọt vui vẽ để khuyến khích an ủi; hoặc đem vào nhiều điều hay việc tốt hay công đức tu hành mà bình sinh người ấy đã làm để tán thán ngợi khen các phươn tiện ấy sẽ có công năng khiến bệnh nhân hoan hỷ và tin tưởng rồi nhờ đó mà sẽ được vãng sanh tịnh độ.
 
Nếu gặp phải bệnh nhân thần trí hôn mê không còn biết gì nữa, ban hộ niệm đứng bên cạnh hộ niệm hoặc đánh chuông mõ hết sức nhẹ nhàng đừng cho tiếng xẵng và ồn, khiến gây nên trạng huống lộn xộn trong thần thức của bệnh nhân. Nếu như phút lâm chung kéo dài quá lâu nên luân phiên tụng niệm, thế nào cho tiếng niệm Phật đừng dứt đoạn. Niệm đến khi nào bệnh nhân hết thở và toàn thể châu thân lạnh đều mới thôi.

B. Sau khi lâm chung

Khi bệnh nhân đã hết thở rồi ban hộ niệm vẫn tiếp tục niệm Phật và tuyệt đối không nên cho bà con khóc lóc. Cũng không nên đụng đến thi thể hoặc vội tắm rửa thay áo quần. Tránh đừng nên đụng chạm gây ra huyên náo hay nói to tiếng làm cho vong giả kinh loạn.
Sở dĩ phải tuyệt đối giữ thanh tịnh là vì dù ngực hết thở, quả tim hết đập nhưng thần thức ( thức thứ tám ) của người chết vẫn chưa lìa khỏi xác. Nếu xung quanh có tiếng khóc lóc hoặc ồn ào va chạm, thi thể còn cảm giác sẽ sanh lòng sân hận, rồi có thể vì đó mà bị đọa lạc. Kinh chép khi vua A Kỳ Đạt băng hà vì người giữ thây dùng quạt đuổi rùi đụng nhầm mặt nhà vui, khiến nhà vui phẫn nộ do đó nhà vui đọa làm thân con rắn!
Vì những lẽ trên nên cần phải thận trọng trong giờ phút trước và sau khi lâm chung. Tốt hơn hết là nên luôn luôn có người ngồi bên cạnh tiếp tục niệm Phật không hỡ, khiến cho chính niệm được liên tục. Nếu không làm được như vậy thì nên đuổi hết mèo chó, cấm hẳn người ra vào và đóng kín cửa phòng lại. Nếu như muốn tắm rửa, thay quần áo và uốn nắn tay chân cho người chết để nhập liệm thì nên đợi sau tám tiếng đồng hồ mới chắc chắn không làm hại cho người chết.
Trong duy thức học có dạy rằng: Muốn biết một người chết sẽ thác sanh về thế giới nào, hãy xem thần thức người đó lìa khỏi xác tại điểm nào. Điểm mà thần thức xuất tức là điểm còn hơi nóng cuối cùng, sau khi toàn thể châu thân đã lạnh buốt. Bài kệ sau đây sẽ cho ta biết cảnh giới tương lai của người chết sắp đầu thai:
Đảnh thánh, nhản sanh thiên
Nhân tâm, ngạ quỷ phúc
Bàn sanh túc hạ hành
Địa ngục khước đề xuất.


Nghĩa là: Thần thức xuất ở đỉnh đầu là sanh về cõi thánh, xuất ở chặng con mắt thì sanh về cõi trời, xuất ở trên chấn thủy thì sanh về cõi người, xuất ở dưới bụng thì sanh về cảnh giới ngạ quỷ; xuất ở đầu gối thì sanh về cảnh giới súc sanh, xuất ở dưới bàn chân thì sanh về cảnh giới địa nguc. Vì thế, trong khi thần thức sắp rời khỏi xác mà ví như sẽ được sanh về cõi trời thì chỗ còn nóng sau cùng là ngan khoản con mắt. Nếu không khéo để cho thi thể va chạm hoặc để cho tiếng ồn ào kinh động khiến thần thức tán loạn sanh phiền não, phải bị đọa lạc thì thật là oan uổng cho người chết biết chừng nào!

Thiết tha mong toàn thể tín đồ Phật tử phải lưu tâm điểm này để cứu giúp nhau trong giờ phút lâm chung, giờ phút nghiêm trọng có ảnh hưởng cho cả một kiếp sau. Mong thay!

C. Cứu độ thân trung ấm
Thân thể con người do năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức tạo thành. Năm uẩn cũng gọi là năm ấm. Vì thế thân thể hiện còn gọi là tiền ấm sau khi chết rồi và đã thác sanh gọi là hậu ấm, nằm ở khoảng giữa tiền ấm và hậu ấm ( chết rồi mà chưa đầu thai lại ) gọi là trung ấm.
Thân trung ấm bắt đầu từ giây phút thức thứ tám mới lìa khỏi thể xác mà chết. Theo luận câu xá thì thân trung ấm của người ở dục giới lớn bằng em bé 5, 6 tuổi, nhanh sáng, có sức thông đạt, có sức ký ức nhạy hơn chín phần, so với lúc sanh tiền.
Sau khi người chết, tuy thần thức ly khai thân xác chuyển thành thân trung ấm, nhưng thân trung ấm ấy trừ trường hợp quá dày phúc đức hay quá nhiều tội ác thì trong giây phút hoặc được sanh nhơn thiên hoặc bị đọa ác thú liền, kỳ dư trong các trường hợp bình thường thì thần thức vẫn còn loanh quanh lưu luyến bên cạnh thân cũ. Cho nên, nếu quyến thuộc khóc lóc hoặc tắm rửa , thay áo quần cho người chết v.v… thần thức đều biết cả. Bấy giờ thần thức tưởng như mình còn sống nên nó vẫn đến hỏi việc này việc khác, nhưng ngặt vì không ai thấy nghe mà đáp lại, vì vậy vô cùng bực tức, sợ hãi, bối rối, rồi giận giữ bỏ ra đi. Vì thế đối với người chết rồi thân thể tuy đã lạnh cứng, nhưng người sống không nên nói điều gì hay làm việc gì có tính cách khêu gợi lòng tham, sân, si, khêu gợi sự luyến tiếc cho người chết. Như là sắp chết thì chỉ nên thuyết pháp, an ủi, khuyến khích nhất tâm cầu nguyện vãng sanh cực lạc; nếu người ấy đã chết rồi thì nên tụng kinh niệm Phật cho thân trung ấm nghe.
Nếu người chết lúc sanh tiền chưa từng niệm Phật, trong giờ phút gần lâm chung, lòng không chốn nương tựa, thân không còn là chủ thể, hoàn cảnh thật là hết sức thê lương ảm đạm. Trong giờ phút ấy, nếu được nghe một tiếng niệm Phật, một lời thuyết pháp, người chết nhờ nhất niệm đó mà có thể vãng sanh tịnh độ. Cho nên, đối với vong nhân, không kể sanh tiền có tin Phật hay không tin Phật,  có tu tịnh độ hay không tu tịnh độ, ban hộ niệm đều nhất thiết nên đến giúp đỡ và to tiếng niệm danh hiệu Phật. Đó là phương pháp cứu độ thân trung ấm, hết sức hữu ích và cần phải thi hành.
D. Cúng vong cầu siêu
Đám tiệc nên tùy nghi phương tiện, cốt nhất phải thanh tịnh, không nên bày vẽ rộn ràng, sát sinh cúng tế một cách linh đình. Trong kinh Phật dạy: “Hình thức người chết ( thân trung ấm ) chỉ dùng mùi hương làm thức ăn” Vì thế ta nên dung hương thơm hoa đẹp đèn sáng mà cúng là đủ. Nhất là tiếng niệm Phật và lời thuyết pháp thì rất bổ ích cho vong linh.
Sau khi đám tiệc xong xuôi, người con hiếu thảo nên vì vong linh làm các Phật sự để cầu siêu độ, bất luận vong giã đã vãng sanh hay chưa. Nếu đã vãng sanh rồi thì càng tăng thêm phước huệ, nếu chưa vãng sanh thì nhờ đó mà túc nghiệp tiêu trừ, sanh về các cõi thiện. Đó là cách báo ân hay nhất của người con hiếu thảo.
Làm Phật sự thì không gì hơn tụng kinh bái sám và trì niệm danh hiệu Phật. Có thể tự trong gia thuộc tự tụng lấy, hoặc mời đạo hữu tụng thêm. Tụng niệm xong nên hồi hướng công đức cho vong giả làm tư lương cầu sanh tịnh độ. Nếu trong gia thuộc không ai biết tụng kinh thì chuyên niệm Phật cũng đủ rồi.
Còn như di sản của vong giả để lại, nếu là của cải thì nên đem làm việc phước thiện như; bố thí, giúp đỡ kẻ nghèo khó, giúp đỡ người tàn phế, hoặc làm chùa, ấn tống kinh tượng, cúng dường chư tăng v.v… làm các việc phước thiện ấy rồi đem công đức cầu cho hương linh tội diệt phước sanh vãng sanh cực lạc. Như thế thì người còn kẻ mất thảy đều công đức lớn lao không kể xiết. Kinh Địa Tạng nói: “Trong khi vì người chết mà làm việc công đức thì người sống đã hưởng hết sáu phần mà người chết chỉ hưởng một mà thôi”.